Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ- ST

Ngày: 25/11/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Như Lữ; ông Lường Văn Dũng.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên;

Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 09/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Giàng Thị S, sinh năm: 1989, địa chỉ: bản H, xã N, tỉnh B, có mặt.

2. Bị đơn: ông Mùa A T, sinh năm: 1988, địa chỉ: bản H, xã N, tỉnh B (Hiện đang chấp hành án tại đội 19, phân trại I, trại giam Yên Hạ, tỉnh Sơn La), vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03/10/2025 và trong quá trình xét xử, Nguyên đơn bà Giàng Thị S trình bày:

[1]. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Giàng Thị S và ông Mùa A T sau một thời gian tìm hiểu nhau đã tự nguyện đến UBND xã Núa Ngam, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (Nay là xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên) đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 18/6/2015. Sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, ngoài ra ông Mùa A T còn bị bắt vào tháng 9 năm 2019 về tội Mua bán trái phép chất ma túy và bị tuyên phạt 18 năm tù giam dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Hiện nay mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy bà Giàng Thị S đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Mùa A T.

[2]. Về con chung:

Đương sự có 03 con chung; cháu Mùa A Thái, sinh ngày 14/8/2014; cháu Mùa A Thà, sinh ngày 25/01/2012; cháu Mùa Thị Pó, sinh ngày 26/3/2010. Bà S có nguyện vọng được nuôi cả 03 con chung cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3]. Về tài sản:

Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Mùa A T:

Toà án đã thông báo hợp lệ về việc thụ lý vụ án; được Toà án triệu tập hợp lệ đến làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ nhưng ông T vắng mặt, không nêu ý kiến phản hồi về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con của nguyên đơn.

Ngày 03/11/2025 Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử (xét xử vào ngày 19/11/2025), Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự, nguyên đơn bà S có mặt, bị đơn ông T vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và thông báo mở lại phiên tòa vào ngày 25/11/2025, thông báo cũng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ cho các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi con với bị đơn. Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên. Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc vắng mặt của bị đơn ông Mùa A T:

Ngày 03 tháng 11 năm 2025, Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho ông Mùa A T tuy nhiên đến ngày mở phiên tòa, ngày 19/11/2025 ông T không đến phiên tòa và không có đơn xin xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 233, Điều 235 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đã nhờ Trại giam Yên Hạ cử cán bộ quản giáo tống đạt quyết định hoãn phiên tòa cho ông Mùa A T. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân: bà S và ông T kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên hôn nhân giữa bà S và ông T là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà S:

Bà S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại bà S không còn tình cảm với ông T. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà S và ông T là tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Ngoài ra ông Mùa A T còn bị bắt vào tháng 9 năm 2019 về tội Mua bán trái phép chất ma túy và bị tuyên phạt 18 năm tù giam. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định việc bà S cho rằng hai vợ chồng không còn hạnh phúc, bà S không còn tình cảm với ông T là đúng. Xét tình trạng thực tế giữa hai vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định bà S và ông T không còn tình cảm, không cùng chung sống nuôi dạy con cái, vun vén hạnh phúc gia đình. Vì vậy, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà Giàng Thị S, giải quyết cho bà Giàng Thị S ly hôn với ông Mùa A T.

Về con chung: Đương sự có 03 con chung, là cháu Mùa Thị Pó, sinh ngày 26/3/2010; cháu Mùa A Thà, sinh ngày 25/1/2012; cháu Mùa A Thái, sinh ngày 14/8/2014. Bà S có nguyện vọng được nuôi cả 03 cháu cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động do ông T đang phải đi chấp hành án tại trại giam Yên Hạ. Về cấp dưỡng nuôi con chung bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu và nguyện vọng của bà S là chính đáng, bà S là người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. HĐXX căn cứ Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Giao cháu Mùa Thị Pó, Mùa A Thà, Mùa A Thái cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà S không yêu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên hội đồng xét xử không xem xét. Ông T có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ: bà Giàng Thị S không đề nghị Tòa án giải quyết, trong quá trình giải quyết vụ án ông Mùa A T không có ý kiến gì, nên Hội đông xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Quá trình giải quyết vụ án bà Giàng Thị S có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí. Tại phiên tòa bà S tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét miễn tiền án phí DSTT cho bà, bởi vì, bản thân và gia đình bà là người dân tộc Mông đang cư trú tại bản Huổi Hua, xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, cần áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Giàng Thị S là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Điều 53, Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 69; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn bà Giàng Thị S được ly hôn với bị đơn ông Mùa A T.
  2. Về con chung:

    Giao con chung là cháu Mùa Thị Pó, sinh ngày 26/3/2010; cháu Mùa A Thà, sinh ngày 25/1/2012; cháu Mùa A Thái, sinh ngày 14/8/2014 cho bà Giàng Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

    Quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể được thay đổi theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình 2014 khi có yêu cầu.

  3. Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Giàng Thị S được miễn án phí DSST.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Giàng Thị S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/11/2025). Bị đơn ông Mùa A T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Khu vực 2;
  • - CCTHADS tỉnh Điện Biên;
  • - Phòng GĐ TTr, KT - THA TAND tỉnh ĐB;
  • - UBND xã Núa Ngam;
  • - Lưu: HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ- ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger