trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN TRỤ

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24-01-2025

V/v ly hôn và tranh

chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hoàng Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Lô.
  2. Bà Mai Thị Bỉ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Lê Thành V, sinh năm: 1978; Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 8 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H trình bày:

Bà và ông Lê Thành V tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện M, tỉnh Long An ngày 03 tháng 10 năm 2019. Vì không tìm hiểu nhau kỹ trước khi kết hôn nên sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng mâu thuẫn kéo dài cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà mở quán ăn, khi bàn bạc với ông V thì ông V đồng ý mở quán nhưng sau khi mở quán bán thì ông V nhiều lần đến quán đập phá, không cho bà bán nữa. Mâu thuẫn giữa vợ chồng kéo dài, vợ chồng thường xuyên cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hàn gắn được nữa nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Thành V.

Về con chung: Bà và ông Lê Thành V có 01 con chung tên Lê Nguyễn Bảo N, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2019, hiện con chung đang sống với bà, do bà chăm sóc con từ khi sinh ra cho đến nay. Vì vậy, khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N và yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận với nhau.

Về nợ chung: Bà xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Thành V trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng và con chung đúng như bà Nguyễn Thị Hồng H trình bày. Ông không đồng ý ly hôn với bà H, trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông yêu cầu được quyền nuôi con chung là cháu Lê Nguyễn Bảo N, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông V không đề cập và cũng không có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Vụ án đã được Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ nhưng không thành.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H có mặt trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày như trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn ông Lê Thành V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, bị đơn không có yêu cầu phản tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Hồng H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn và có tranh chấp về quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung đối với ông Lê Thành V, bị đơn hiện đang cư trú tại xã B, huyện T, tỉnh Long An theo xác nhận của Công an xã B, huyện T, tỉnh Long An. Vì vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ theo quy định Điều 208 Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng hòa giải đoàn tụ không thành, bà H cương quyết ly hôn, ông V không đồng ý ly hôn nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Thành V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn ông Lê Thành V.

[3] Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Lê Thành V, thấy rằng: Bà H và ông V tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2019 đăng ký ngày 03 tháng 10 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện M, tỉnh Long An cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông V được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Theo bà H trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong việc mở quán ăn, tại phiên họp hòa giải đoàn tụ, ông V trình bày không đồng ý ly hôn nhưng từ phiên hòa giải đoàn tụ cho đến nay ông V vẫn không có biện pháp hàn gắn với bà H, tại phiên tòa bà H cương quyết ly hôn, không đồng ý đoàn tụ với ông V. Ông V vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không thể hòa giải đoàn tụ tại phiên tòa được. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng H đối với ông Lê Thành V.

[4] Về con chung: Bà H và ông V có 01 con chung tên Lê Nguyễn Bảo N, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2019. Xét thấy, cháu Bảo N hiện đang sống với bà H, do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng; hiện con chung vẫn đang phát triển bình thường, khỏe mạnh nên tiếp tục giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cháu N để không làm thay đổi môi trường sống gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý của con chung và cũng đảm bảo cho sự phát triển bình thường của con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng H giao con chung tên Lê Nguyễn Bảo N, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2019 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông V có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[5] Về mức cấp dưỡng nuôi con: Bà H yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Vì ông V là người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Theo quy định tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì mức cấp dưỡng căn cứ vào khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Xét mức cấp dưỡng theo yêu cầu của bà H là 2.000.000 đồng/tháng, thấy rằng mức cấp dưỡng này chỉ đáp ứng được chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con chung và cũng không vượt quá mức thu nhập trung bình tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Lê Thành V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Nguyễn Bảo N mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 02 năm 2025 đến khi có một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con hoặc cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[6] Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông V đều không có yêu cầu giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

[7] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7.1] Buộc bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009746 ngày 18 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; bà H đã nộp xong án phí sơ thẩm.

[7.2] Ông Lê Thành V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 96, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 207, Điều 208, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” đối với ông Lê Thành V.
    • Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn với ông Lê Thành V.
    • Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Nguyễn Bảo N, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2019. Ông Lê Thành V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Nguyễn Bảo N mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 02 năm 2025 đến khi có một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
    • Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định của pháp luật.
    • Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  2. Về án phí:
    • Buộc bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009746 ngày 18 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; bà H đã nộp xong án phí sơ thẩm.
    • Ông Lê Thành V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nộp vào ngân sách nhà nước.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  4. Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Tân Trụ;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Trụ;
  • - UBND xã Bình Hòa Đông, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An (Để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Hoàng Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN về ly hôn và tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger