trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24 - 01 - 2025.

“V/v xin ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Cường.

Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Oanh và bà Trần Thị Hải Hà.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2024/TLST – HNGĐ, ngày 06/11/2024 về việc “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐ – HNGĐ, ngày 20/01/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 2001;

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

* Bị đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 2002.

Nơi thường trú: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Nơi ở hiện tại: thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam.

*/ Người làm chứng:

- Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1968;

Địa chỉ: thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản ghi lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Ngọc T trình bày:

Anh kết hôn với chị Trần Thị L, sinh năm 2002 là người ở thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam trên cơ sở tự nguyện và được tự do tìm hiểu có tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã T, huyện K vào ngày 25/02//2022.

Sau khi kết hôn chị L về chung sống cùng với anh tại D, xã T. Sau khi kết hôn được khoảng 1 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm lối sống, không tìm được tiếng nói chung. Mặt khác do không có sự tìm hiểu nhau kỹ trước khi kết hôn, do vậy khi về chung sống mới phát hiện không hiểu gì về nhau. Vợ chồng khắc khẩu nên không thể tâm sự hay chia sẻ được với nhau nên làm cho cuộc sống ngột ngạt, không giải tỏa được, mâu thuẫn càng ngày càng lớn thêm. Từ đó vợ chồng hay xẩy ra cãi vã và nhiều lần nói chuyện ly hôn nhau. Tuy nhiên gia đình lại khuyên giải nên anh đã cố gắng nhẫn nhịn nhau, nhưng cuộc sống chung vợ chồng không cải thiện được, thậm chí càng ngày càng lạnh nhạt. Do quá chán nản và mệt mỏi nên từ cuối năm 2023 chị L đã về nhà bố mẹ đẻ ở huyện K, tỉnh Hà Nam sinh sống. Từ đó đến nay vợ chồng anh sống ly thân nhau, mỗi người một nơi, không quan tâm gì đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn từ lâu nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn nhau để hai bên sớm ổn định cuộc sống mới.

Về con chung: Vợ chồng anh không có con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung, đất canh tác nông nghiệp 03, công sức đóng góp với gia đình hai bên nội ngoại: Không có gì liên quan nên anh không đề nghị Tòa án đặt ra giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Phạm Thị T1 (mẹ đẻ chị L) trình bày: Về hoàn cảnh và điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân như anh T trình bày là đúng. Bà T1 xác định, do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên chị L đã về nhà bà sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, hai bên không quan tâm gì đến nhau.

Khi bà nhận được các Thông báo và Giấy triệu tập của Tòa án gửi cho chị L thì bà đều thông báo ngay cho chị L và động viên chị L đến Tòa án huyện K làm việc. Tuy nhiên chị L kiên quyết nói là không đến làm việc được vì bận công việc và chị L có quan điểm như sau: Chị L cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hai bên không thể đoàn tụ chung sống nên nhất trí ly hôn với anh T và đề nghị Tòa án huyện K giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị L và anh T không có con chung. Về các quan hệ khác của hai vợ chồng thì không có gì liên quan nên chị L không đề nghị Tòa án đặt ra giải quyết. Chị L cũng xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án này.

UBND Tân Dân cung cấp: Vợ chồng anh T và chị L đã làm thủ tục đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, vào ngày 25/02//2022. Hiện hai anh chị đã sống ly thân nhau. Vợ chồng anh chị không có con chung. Đồng thời UBND xã có quan điểm mâu thuẫn giữa anh T và chị L là có thật nên đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn anh Phạm Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn chị Trần Thị L vắng mặt lần thứ hai dù đã được triệu tập hợp lệ, người làm chứng bà T1 có quan điểm xin được giải quyết, xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu phát biểu ý kiến:

  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, người làm chứng đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn vắng mặt không lí do là không tuân theo quy định của pháp luật.
  2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 144; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.

Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Phạm Ngọc T được ly hôn với chị Trần Thị L. Về con chung, tài sản chung; công nợ chung của vợ chồng; đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của anh T, chị L đối với hai bên gia đình đều không có: Không đặt ra giải quyết. Về án phí, anh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Anh Phạm Ngọc T có đơn đề nghị Toà án nhân dân huyện Khoái Châu giải quyết ly hôn cho anh và chị Trần Thị L, có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Căn cứ quy định tại Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Khoái Châu.

- Nguyên đơn anh Phạm Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Trần Thị L vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ hai lần; người làm chứng bà T1 đã có quan điểm xin được giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh T kết hôn với chị L trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K vào ngày 25/02/2022 là hoàn toàn hợp pháp, đã xác lập quan hệ vợ chồng được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng đã nẩy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm lối sống. Vợ chồng không tin tưởng nhau và không biết cảm thông, chia sẻ với nhau. Cả hai đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2023 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Anh T xác định không còn tình cảm với chị L nên xin ly hôn để ổn định cuộc sống. Bản thân chị L cũng nhất trí ly hôn với anh T.

Từ những căn cứ nêu trên xác định tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của anh T là có căn cứ, phù hợp với Điều 51, Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Anh Phạm Ngọc T và chị Trần Thị L không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung, đất canh tác nông nghiệp 03, công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình nội ngoại: Anh T và chị L đều xác định không có và không yêu cầu đặt ra giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Ngọc T được ly hôn với chị Trần Thị L.
  • - Về tài sản chung, công nợ chung, đất canh tác nông nghiệp 03; công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình nội ngoại: Tòa án không đặt ra xem xét ở trong vụ án ly hôn này.
  • - Về án phí: Anh Phạm Ngọc T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm anh T đã nộp theo biên lai thu số 0002317 ngày 06/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu, anh T đã thi hành xong phần án phí.
  • - Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt tất cả các đương sự. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Khoái Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Khoái Châu;
  • - UBND xã Tân Dâ, huyện Khoái Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU về xin ly hôn

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger