|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23-7-2024 V/v: Ly hôn; tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Thành Tâm;
Ông Lê Văn Đặng.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 440/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 về việc: “Ly hôn; tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1999; thường trú tại: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (nay là xã C, tỉnh An Giang); tạm trú tại: Nhà T, đường D, tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 2001; thường trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (nay là xã L, tỉnh Cà Mau); tạm trú tại: Nhà T, đường G, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 19/5/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn D trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị M chung sống với nhau từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (nay là xã L, tỉnh Cà Mau), theo Giấy chứng nhận kết hôn số 105/2020, đăng ký ngày 04/11/2020. Ông và bà M chung sống hạnh phúc cho đến tháng 10/2024 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân không còn tình cảm. Bà M đã dọn ra ngoài sinh sống từ tháng 10/2024 cho đến nay. Khoảng tháng 5/2025 ông phát hiện trong điện thoại của bà M có tin nhắn, hình ảnh của bà M với người đàn ông khác, ông có chụp hình lại và in trên 18 tờ giấy A4 gửi kèm theo đơn khởi kiện. Do đó nay ông yêu cầu được ly hôn với bà M.
Về con chung: Ông và bà M có 01 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 01/8/2021, cháu N đang chung sống với bà M. Nay ông yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu bà M cấp dưỡng. Lý do ông yêu cầu nuôi con: Do bà M ngoại tình, không còn đủ tư cách để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N. Về khả năng tài chính nuôi con: Hiện ông đang làm việc tại Công ty TNHH O, lương trung bình hàng tháng khoảng 8.000.000 đồng. Ông làm việc tại Công ty theo giờ hành chính, trong thời gian làm việc ông sẽ nhờ cha, mẹ ông chăm sóc cháu.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Ông D và bà chung sống với nhau từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (nay là xã L, tỉnh Cà Mau), theo Giấy chứng nhận kết hôn số 105/2020, đăng ký ngày 04/11/2020. Ông D và bà chung sống với nhau không hạnh phúc, bà không được ông D và ba mẹ ông D quan tâm, thường xuyên chửi, xúc phạm bà không rõ lý do. Do đó, đến tháng 10/2024 thì bà đã dọn ra ngoài sinh sống cho đến nay. Đối với những tài liệu, chứng cứ ông D cung cấp cho Tòa án kèm theo đơn khởi kiện in trên 18 tờ giấy A4, bà thừa nhận đó là tin nhắn, hình ảnh của bà và bạn của bà bị ông D chụp lại trên điện thoại của bà. Tuy nhiên bà chỉ có mối quan hệ bạn bè, không có tình cảm nam nữ như ông D trình bày. Nay bà không còn tình cảm với ông D, nên bà đồng ý ly hôn với ông D.
Về con chung: Bà và ông D có 01 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 01/8/2021. Cháu N từ nhỏ chung sống với bà cho đến nay, hiện bà là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N. Bà cũng tham gia lao động tại Công ty X, do mới vô tham gia lao động nên bà chưa có hợp đồng lao động. L trung bình khoảng 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, nếu tăng ca thì sẽ từ 12.000.000 đồng đến 13.000.000 đồng. Khi sống chung với ông D, cháu N đêm đến không ngủ, khóc, lúc đó ông D lôi cháu N vô trong nhà vệ sinh nhốt lại, đôi khi còn dùng chân đá cháu N, bà phải đỡ thay cho cháu N. Do đó, nay bà yêu cầu được nuôi cháu N, sinh ngày 01/8/2021 và yêu cầu ông D cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử hoặc ngày Tòa án ban hành quyết định cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
Về nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Trần Văn D trình bày: Ông yêu cầu được ly hôn với bà M; yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu bà M cấp dưỡng; tài sản chung, nợ chung ông không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà đồng ý ly hôn với ông D; về tài sản chung, nợ chung bà không yêu cầu giải quyết; về con chung, bà yêu cầu nuôi con, không yêu cầu ông D cấp dưỡng.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử, xét thấy:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn D đối với bị đơn bà Nguyễn Thị M:
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Ông D và bà chung sống với nhau từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (nay là xã L, tỉnh Cà Mau), theo Giấy chứng nhận kết hôn số 105/2020, đăng ký ngày 04/11/2020, hôn nhân là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nay ông D yêu cầu được ly hôn với bà M, bà M đồng ý. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa ông D và bà M đã tới mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần cho ông D được ly hôn với bà M.
1.2 Về con chung: Ông D và bà M có 01 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 01/8/2021, đang sống cùng với bà M. Việc hiện nay cháu N đang ở nhà ông D là do ông D đóbn cháu qua ở chơi, không phải ở thường xuyên. Nay ông D và bà mai đều có nguyện vọng nuôi con và đều không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy, bà M và ông D hiện đều có công việc làm và mức lương ổn định tại Công ty TNHH X (Việt Nam), Công ty TNHH O. Tuy nhiên, hiện cháu N còn nhỏ và đang chung sống với bà M. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông D xác nhận ông D từng nhốt cháu N vào nhà vệ sinh và đánh cháu N. Điều này cho thấy việc giao cháu N cho ông D nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện tốt về việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu N. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu N cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và ghi nhận bà M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Ông D, bà M khai không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[2] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử thống nhất.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các Điều 9, 56, khoản 1 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147; khoản 1 Điều 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn D đối với bị đơn bà Nguyễn Thị M về việc: “Ly hôn; tranh chấp nuôi con”.
- Về hôn nhân: Ông Trần Văn D được ly hôn với bà Nguyễn Thị M.
- Về con chung: Giao con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 01/8/2021 cho bà Nguyễn Thị M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận bà Nguyễn Thị M không yêu cầu ông Trần Văn D cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Trần Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Văn D, bà Nguyễn Thị M không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
2. Về án phí: Ông Trần Văn D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Trần Văn D đã nộp theo Biên lai thu kí hiệu BLTU/24, số 0004541 ngày 05 tháng 6 năm 2025 của của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh). Ông Trần Văn D đã nộp xong tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Ông Trần Văn D, bà Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cẩm Hằng |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn; tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
