Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÈO VẠC

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 23/6/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Củng Trần Lương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Chanh

2. Bà Thào Thị Thu Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc tham gia phiên tòa: Ông Vừ Mí Sính – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 07/2025/TLST – HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1992, địa chỉ: thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt

Bị đơn: Anh Nông Văn Đ, sinh năm 1988, địa chỉ: thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt không có lí do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:

Chị và anh Nông Văn Đ đăng kí kết hôn vào ngày 16/3/2010 tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện đến với nhau. Ban đầu cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau đến tháng 02/2020 chị L đi làm Công ty ở tỉnh Hải Dương, khi vợ chồng xa nhau thì càng nhiều mâu thuẫn xảy ra nguyên nhân là do anh Đ ghen tuông vô cớ, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần đều không được. Đến tháng 01/2024 vợ chồng sống ly thân cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai, chị cảm thấy vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung, không còn tình cảm gì với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên nghiêm trọng, do vậy chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nông Văn Đ.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nông Văn T sinh ngày 07/9/2011 và cháu thứ hai là Nông Phúc Đ1, sinh ngày 30/9/2017, hiện nay cả hai cháu đang sinh sống cùng với anh Nông Văn Đ. Chị L đề nghị sau khi ly hôn giao cả hai cháu cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị L khẳng định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/4/2025 cháu Nông Văn T trình bày:

Cháu hiện nay đang học lớp 8B Trường PTDTBT trung học cơ sở xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang, trước đây bố mẹ ở với nhau thường xuyên cãi chửi nhau, nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu muốn với bác Nông Văn T1 vì bác thường xuyên chăm sóc cháu.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/4/2025 cháu Nông Phúc Đ1 trình bày:

Cháu hiện nay đang học lớp 2A5 Trường PTDTBT tiểu học cơ sở xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang, nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được ở với mẹ vì bố hay đánh cháu.

Tại biên bản xác minh ngày 28/4/2025 ông Thuận Văn T2 là trưởng thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang cho biết vợ chồng anh Đ, chị L xảy ra mâu thuẫn từ năm 2019 do anh Đ nghi nghờ chị L có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác ở huyện Y, tỉnh Hà Giang.

Tại phiên tòa chị Trần Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Nông Văn Đ, chị và anh Đ không còn chung sống với nhau đã lâu, không còn tình cảm gì với nhau, đến nay chị cảm thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục được nữa đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ; về con chung chị đề nghị anh Nông Văn Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung, chị cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu Nông Văn T số tiền 1.000.000/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi đối với cháu Nông Phúc Đ1 do anh Đ nuôi dưỡng; về công nợ chung và tài sản chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang trình bày:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ trong việc xác định quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Việc xác minh, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký theo đúng quy định tại BLTTDS.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn chị Trần Thị L đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của BLTTDS.

Bị đơn anh Nông Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để làm việc. Do vậy gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án:

Quan hệ hôn nhân: Xét thấy việc chị Trần Thị L có đơn xin ly hôn với anh Nông Văn Đ là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không ổn định kinh tế gia đình, anh Đ thường xuyên xúc phạm, chửi bới chị L. Như vậy, theo đơn khởi kiện cùng những tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay đã đủ căn cứ để xem xét giải quyết vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L, cho chị L được ly hôn với anh Nông Văn Đ.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung, cháu Nông Văn T sinh ngày 07/9/2011 và cháu thứ hai là Nông Phúc Đ1, sinh ngày 30/9/2017. Hiện nay cả hai cháu đang sinh sống cùng với anh Đ. Đề nghị giao cả hai cháu cho anh Nông Văn Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu Nông Văn T số tiền 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi anh Nông Văn Đ là người đại diện nhận.

Về tài sản chung: không có không đề nghị giải quyết.

Về công nợ chung: không có không đề nghị giải quyết.

Án phí: Căn cứ vào Điều 147 của BLTTDS 2015, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp, qua kết quả thẩm tra các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Trần Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với bị đơn anh Nông Văn Đ có địa chỉ tại thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang, nên vụ án Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt bị đơn tại phiên tòa, anh Nông Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại nên căn cứ 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Nông Văn Đ có đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 03 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét thấy chị L và anh Đ bắt đầu xảy ra mâu thuẫn từ năm 2019 nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng cãi chửi nhau từ những lí do nhỏ nhặt, anh Đ ghen tuông vô cơ và thường xuyên xúc phạm chị L. Năm 2024 vợ chồng sống ly thân cho đến nay, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc, hỏi thăm lẫn nhau dẫn đến mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Quá trình giải quyết vụ án anh Đường K hợp tác đến làm việc, các tài liệu chị L giao nộp thể hiện anh Đ không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị L. Qua đó cho thấy anh Đ và chị L đã có mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, không có khả năng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị L và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, cho chị L được ly hôn với anh Đ.

[3] Về con chung: Anh Đ và chị L có 02 con chung là cháu Nông Văn T sinh ngày 07/9/2011 và cháu thứ hai là Nông Phúc Đ1, sinh ngày 30/9/2017. Hiện nay cả hai cháu đang sinh sống cùng với anh Đ, chị L đồng ý giao cả hai cháu cho anh Đ là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Qua lời khai của cháu Nông Văn T có nguyện vọng được ở cùng với bác là Nông Văn T1, cháu Nông Phúc Đ1 bày tỏ quan điểm là muốn ở với mẹ vì hay bị bố đánh, tuy nhiên qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án không chứng minh có hành vi bạo lực của Đ đối với con và ông Nông Văn T1 không có đề nghị chính thức. HĐXX xét thấy, các cháu đang có môi trường học tập ổn định nên tiếp tục giao các cháu cho anh Đ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại chị L đang làm việc tại khách sạn K1 ở huyện Y, tỉnh Hà Giang, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 5.000.000 đồng và đang phải thuê nhà để ở. Tại phiên tòa hôm nay chị đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung cho con là Nông Văn T số tiền 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng mỗi tháng một lần, việc cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, thời hạn cấp dưỡng là ngày 25 hàng tháng. HĐXX xét thấy, việc cấp dưỡng nuôi con chung của chị Trần Thị L là hoàn toàn phù hợp với khả năng kinh tế hiện tại của chị L.

Việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung là không cố định.

Chị L có quyền được đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở được quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về tài sản chung: Chị L khẳng định không có, không đề nghị giải quyết nên HĐXX không đề cập xem xét.

[6] Về công nợ chung: Chị L khẳng định không có nên HĐXX không đề cập xem xét.

[7] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Trần Thị L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L đối với anh Nông Văn Đ. Cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Nông Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao cả 02 con chung gồm: cháu Nông Văn T sinh ngày 07/9/2011 và cháu thứ hai là Nông Phúc Đ1, sinh ngày 30/9/2017 cho anh Nông Văn Đ là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

    Chị Trần Thị L có trách nhiệm cấp dưỡng cho con chung là cháu Nông Văn T số tiền 1.000.000 đồng/tháng. Thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, phương thức cấp dưỡng mỗi tháng một lần, thời hạn cấp dưỡng vào ngày 25 hàng tháng. Khoản tiền cấp dưỡng do anh Nông Văn Đ là người đại diện nhận.

    Chị L có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Trong trường hợp có yêu cầu Tòa án có thể xem xét quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

    Khoản tiền nói trên kể từ ngày hết thời hạn cấp dưỡng và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu án phí HNGĐ-ST số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo Biên lai số 0003825 ngày 04/04/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

    Chị L còn phải chịu án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 300.000 đồng.

Đương sự có quyền kháng cáo lên cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/06/2025). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang
  • - VKSND huyện Mèo Vạc;
  • - THADS huyện Mèo Vạc;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Niêm Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Củng Trần Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ – ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Lắng có đơn đề nghị xin ly hôn với anh Nông Văn Đường đo vợ chồng không còn tình cảm với nhau
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger