Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21 - 3 - 2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thoại;
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Vinh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thúy Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Lê Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 239/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Đơn vị công tác: Phòng tổ chức Công an tỉnh Q, có mặt;
  2. Bị đơn: Anh Trần Ngọc A, sinh năm 1984; địa chỉ: Số B đường D, Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Đơn vị công tác: Công an xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 18/11/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/02/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Trần Ngọc A đăng ký kết hôn 14/10/2008, đăng ký tại U, thành phố Đ trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hai bên nội ngoại nhiều lần khuyên giải, giúp đỡ nhưng không khắc phục được. Nguyên nhân, anh Trần Ngọc A

không chú tâm xây dựng gia đình cả về kinh tế lẫn tình cảm vợ chồng. Mâu thuẫn kéo dài không dàn xếp được, chị P đã đưa các con về ở với bố mẹ từ tháng 8/2022 cho đến nay. Từ đó đến nay, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm. Chị P đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Ngọc A.

Về con chung: Vợ chồng sinh được 02 cháu: cháu Trần Anh Phương D, sinh ngày 11/5/2009 và cháu Trần Anh D1, sinh ngày 13/9/2016. Hiện nay các cháu đang được chị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị P đề nghị Tòa án giải quyết giao các cháu Trần Anh Phương D, sinh ngày 11/5/2009 và Trần Anh D1, sinh ngày 13/9/2016 cho Chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P đề nghị Tòa án buộc anh Trần Ngọc A phải cấp dưỡng nuôi các con chung cháu Trần Anh Phương D và Trần Anh D1, mỗi tháng 5.000.000 đồng (mỗi cháu 2.500.000 đồng) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh Trần Ngọc A đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không trình bày quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, không đến tham gia tố tụng. Do đó, Toà án không tiến hành hoà giải để các đương sự trở lại đoàn tụ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà phát biểu quan điểm:

Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh P là đúng thẩm quyền. Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đảm bảo về trình tự thủ tục tố tụng theo quy định; tại phiên Tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự; người tham gia tố tụng nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Anh Trần Ngọc A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56; Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Cho chị Nguyễn Thị Thanh P được ly hôn anh Trần Ngọc A.

Về con chung: Giao các cháu Trần Anh Phương D, sinh ngày 11/5/2009 và cháu Trần Anh D1, sinh ngày 13/9/2016 cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc anh Ngọc A phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng (mỗi cháu 2.500.000 đồng). Tài sản chung: Không xem xét giải quyết; về án phí: Chị P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh Trần Ngọc A phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thanh P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Trần Ngọc A có hộ khẩu tại: số nhà B đường D, Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập tham gia phiên toà hợp lệ lần thứ hai cho anh Trần Ngọc A, nhưng anh Ngọc A vắng mặt không có lý do nên xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Trần Ngọc A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân Phường U, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 167, quyển số 01/2008 ngày 14/10/2008. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể khắc phục được dẫn đến mỗi người ở mỗi nơi. Chị P cùng các con về nhà mẹ đẻ sinh sống từ 8/2022 đến nay, nhưng cả hai A, C không tìm cách khắc phục, níu kéo, hàn gắn tình cảm.

Toà án đã bằng nhiều biện pháp cấp tống đạt văn bản tố tụng, cũng như đề nghị đơn vị công tác của anh Ngọc A tạo điều kiện để anh đến tham gia hoà giải nhưng anh Ngọc A vẫn không đến tham gia tố tụng. Điều đó thể hiện anh Trần Ngọc A đã bỏ mặc cuộc hôn nhân này, không mong muốn khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm, xây dựng gia đình, nuôi dạy các con.

Xét thấy, hôn nhân là tự nguyện, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc nhau. Nhưng anh Ngọc A và chị P không còn yêu thương nhau nữa, việc vợ chồng đã sống mỗi người mỗi nơi trong một thời gian dài và cả hai đều không mong muốn hàn gắn tình cảm, cho thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị P, xử cho chị P được ly hôn anh Trần Ngọc A.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Trần Ngọc A có 02 con chung là: Trần Anh Phương D, sinh ngày 11/5/2009 và cháu Trần Anh D1, sinh ngày 13/9/2016. Chị P có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung là Trần Anh Phương D và Trần Anh D1. Yêu cầu anh Ngọc A cấp dưỡng nuôi các con mỗi cháu mỗi tháng 2.500.000 đồng (5.000.000 đồng cho cả hai cháu).

Hội đồng xét xử thấy rằng, chị P và anh Ngọc A, đều có việc làm và thu nhập ổn định, nhưng hiện cháu Trần Anh Phương D và Trần Anh D1 hiện đang sinh sống với chị Nguyễn Thị Thanh P và đều có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Quá trình tố tụng anh Ngọc A không trình bày ý kiến, không đến Toà án tham gia tố tụng nên không có cơ sở để xem xét về nguyện vọng nuôi con của anh Ngọc A. Xem xét điều kiện của các bên, đảm bảo quyền lợi, ổn định tâm sinh lý, sự phát triển bình thường và nguyện vọng của các con. Có đủ căn cứ giao cả 02 con chung cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P đề nghị Tòa án buộc anh Trần Ngọc A phải cấp dưỡng nuôi cháu Trần Anh D1, sinh ngày 13/9/2016 cấp dưỡng nuôi các con mỗi cháu mỗi tháng 2.500.000 đồng (5.000.000 đồng cho cả hai cháu).

Theo xác nhận của Phòng tổ chức Công an tỉnh Q, mức lương của anh Trần Ngọc A, mỗi tháng thực nhận 20.896.488 đồng. Chị P yêu cầu cấp dưỡng nuôi cả 02 con chung 5.000.000đ/tháng là hoàn toàn hợp lý, đảm bảo đời sống vật chất của cả anh Ngọc A và các con nên chấp nhận yêu cầu của chị P.

- Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh P, anh Trần Ngọc A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thanh P được ly hôn anh Trần Ngọc A.

- Về con chung: Giao các cháu Trần Anh Phương D, sinh ngày 11/5/2009 và Trần Anh D1, sinh ngày 13/9/2016 cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Ngọc A phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng (5.000.000 (Năm triệu) đồng cho cả hai cháu). Thời gian cấp dưỡng nuôi con kể từ tháng 3/2025 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom con mà gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành tương ứng với số tiền chậm thi hành án, tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ

Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Buộc chị Nguyễn Thị Thanh P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền số 0000600 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, chị P đã nộp đủ án phí.

Buộc anh Trần Ngọc A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn cấp dưỡng nuôi con.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND TP Đông Hà;
  • - Chi cục THADS TP Đông Hà;
  • - Các đương sự;
  • - UBND Phường 1;
  • - Lưu: Tập án, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hồ Thị Xuân Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh P- Trần Ngọc A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger