TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 3 - 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Lợi
- Bà Nguyễn Thị Tươi
- Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2024/TLST - HNGĐ ngày 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phạm Thị Thùy L sinh năm 1994; địa chỉ: thôn T, xã Q, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
- Bị đơn: anh Phạm Văn Đ sinh năm 1979; địa chỉ: số nhà E, đường X, thôn T, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình .
Tại phiên tòa có mặt chị L và anh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 17/10/2024, bản tự khai, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Phạm Thị Thùy L trình bày: Chị và anh Phạm Văn Đ được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 01/8/2013 tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố N nay là thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn anh chị sống hoà thuận đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, khi chị đi làm có thu nhập thì anh Đ không lo cho công việc chung của gia đình nên vợ chồng chị kinh tế, chi tiêu riêng. Anh Đ không cho chị đi làm thêm giờ, chị có chơi game và nhắn tin nói chuyện với bạn nam thì anh Đ đập vỡ điện thoại của chị. Anh chị thường xuyên cãi nhau, có lần anh Đ còn đánh chị dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Ngày 09/10/2024 do anh Đ đánh chị nên chị đã cho con về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay. Trong thời gian này chị và anh Đ không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên chị đề nghị Toà án cho chị được ly hôn anh Phạm Văn Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ có 02 con chung là cháu Phạm Thị Linh Đ1 sinh ngày 20/06/2014 và cháu Phạm Bảo A sinh ngày 12/08/2016. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân chị là người trực tiếp nuôi con và luôn đảm bảo quyền lợi cho con. Do các cháu là con gái và có nguyện vọng ở với mẹ nên chị đề nghị Toà án giao cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Linh Đ1 và cháu Phạm Bảo A cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Thu nhập hàng tháng của chị từ 8.000.0000 đồng đến 9.000.000 đồng, còn anh Đ thu nhập không ổn định nên chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Chị không cản trở việc anh Đ có đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và không có công nợ chung: Chị và anh Đ không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 23/10/2024, các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị đơn là anh Phạm Văn Đ trình bày: Anh nhất trí với lời trình bày của chị L về thời gian đăng ký kết hôn cũng như quá trình chung sống của vợ chồng. Sau khi kết hôn anh chị về sống chung với nhau, anh đi làm lo kinh tế cho gia đình còn chị L ở nhà chăm con nên vợ chồng chung sống hòa thuận. Đến năm 2022 chị L đi bán hàng cho Cơm cháy Đại Long, không có thời gian chăm lo cho gia đình. Anh muốn chị L không làm thêm giờ để có thời gian chăm sóc, dạy con học nhưng chị L không nhất trí và có lời nói thách thức anh. Bên cạnh đó vợ chồng anh bất đồng nhiều vấn đề trong cuộc sống nên vợ chồng anh nhiều lần xảy ra cãi nhau. Chị L hay chơi game và nhắn tìn tình cảm với người khác, anh đã nhắc nhở chị L nhiều lần nhưng chị không nghe nên anh mới đập điện thoại của chị L. Ngày 09/10/2024 vợ chồng cãi nhau nên chị L cho con về nhà mẹ đẻ trong thành phố T để ở cho đến nay. Trong thời gian này anh đã nói với chị L rút đơn khởi kiện để anh chu cấp tiền nuôi con còn chị L không cần về chung sống với anh, chị L muốn làm gì thì làm. Anh thương con không muốn ly hôn, chị L đi lấy chồng các con sẽ khổ, anh không muốn vợ chồng ly hôn mà vợ chồng sống ly thân để anh có trách nhiệm với con. Tuy nhiên chị L vẫn cương quyết xin ly hôn với anh nên anh nhất trí ly hôn với chị L.
Anh và chị L có 2 con chung là cháu Phạm Thị Linh Đ1 sinh ngày 20/6/2014, cháu Phạm Bảo A sinh ngày 12/8/2016, hiện nay các cháu đang do chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Trong quá trình Tòa án giải quyết vì con chung là con gái nên anh nhất trí giao hai con chung cho chị L nuôi dưỡng. Nay vợ chồng ly hôn anh đề nghị Tòa án giao anh và chị L mỗi người nuôi một cháu, cháu nào cũng được để vui cửa vui nhà và anh không mất tài sản cho người khác. Chị L về ở nhà mẹ đẻ chỗ ở chật chội nên anh không nhất trí giao 2 con cho chị L nuôi dưỡng. Thu nhập của anh từ tiền cho thuê nhà trọ, đi làm khoảng 13.000.000 đồng /1 tháng; con là con gái thì anh có tiền sẽ thuê bảo mẫu về dạy dỗ con nên không lo vấn đề giới tính. Anh và chị L không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Anh và chị L không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thùy L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với anh Phạm Văn Đ.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Thùy L được ly hôn với anh Phạm Văn Đ;
- Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Linh Đ1 sinh ngày 20/6/2014, cháu Phạm Bảo A sinh ngày 12/8/2016 cho chị Phạm Thị Thùy L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Anh Đ không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Thùy L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002354 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (nay là Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Phạm Thị Thùy L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với anh Phạm Văn Đ có nơi cư trú tại xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Đây là vụ án về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình (nay là thành phố H) theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Thùy L kết hôn với anh Phạm Văn Đ trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị L và anh Đ phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, công việc và kinh tế không tập trung. Anh chị đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi; không có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Trong quá trình Tòa án giải quyết, anh Đ xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không muốn vợ chồng ly hôn mà vợ chồng sống ly thân để anh có trách nhiệm với con. Tại phiên tòa chị L xin ly hôn, anh Đ nhất trí ly hôn với chị L. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định tình trạng vợ chồng giữa chị L và anh Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu được ly hôn của chị L là có căn cứ, cần được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Chị L và anh Đ có 02 con chung là cháu Phạm Thị Linh Đ1 sinh ngày 20/06/2014 và cháu Phạm Bảo A sinh ngày 12/08/2016. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L và anh Đ đều xác định các cháu là con gái nên giao cho chị L nuôi cháu Đ1 và A. Tại phiên tòa chị L vẫn giữ ý kiến đề nghị Tòa án giao cho chị trực tiếp nuôi hai con chung Anh Đ đề nghị Tòa án giao anh và chị L mỗi người nuôi một cháu, cháu nào cũng được. Tuy nhiên anh Đ xác định sẽ thuê bảo mẫu về dạy dỗ con là không đảm bảo được sự gắn bó, thân thiết của con với cha mẹ. Hội đồng xét xử thấy rằng, các cháu sống chung với với chị L từ tháng 10/2024 đã ổn định được môi trường sống, giáo dục; hai cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Vì vậy để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con chung cần giao cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ1 và cháu A là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã giải thích việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Tuy nhiên chị L vẫn giữ quan điểm không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy chị L có đủ điều kiện nuôi con và việc không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng cho con là tự nguyện nên anh Đ không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
[2.3] Về tài sản chung và công nợ chung: chị L và anh Đ không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Án phí và quyền kháng cáo:
- - Án phí: Chị Phạm Thị Thùy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Thùy L và anh Phạm Văn Đ được ly hôn. Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Thùy L và anh Phạm Văn Đ chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Thùy L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Thị Linh Đ1 sinh ngày 20 tháng 6 năm 2014 và cháu Phạm Bảo A sinh ngày 12 tháng 8 năm 2016 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Anh Phạm Văn Đ không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
- Án phí: chị Phạm Thị Thùy L nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002354 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình nay là thành phố H, tỉnh Ninh Bình.
- Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Phương |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị Thùy L xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Phạm Văn Đ
