|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Án số: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20/02/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Bình; Ông Nguyễn Văn Thân
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Giao – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên: Không tham gia phiên tòa
Ngày 20/02/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 159/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08/01/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm 1979, có mặt
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983, vắng mặt
Đều trú tại: TDP Cử, phường L, TP ., Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai, nguyên đơn chị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 2017 đăng ký tại UBND phường L, TP S, Thái Nguyên, anh chị kết hôn là tự nguyện không bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chị về chung sống với nhau một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Chị T đã 02 lần gửi đơn ly hôn đến Tòa án nhưng muốn cải thiện mối quan hệ, vợ chồng đoàn tụ nên đã rút đơn. Tuy nhiên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đôi lúc còn xảy ra bạo lực gia đình, chị không thể tiếp tục chung sống cùng nhà với anh H được nữa. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2024. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: do chị không sinh được con nên vợ chồng chị nhận nuôi cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 15/8/2019 (theo giấy chứng nhận nuôi con nuôi ngày 18/10/2019). Khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi con chung vì anh H đã có 02 người con riêng (là con đẻ) trước khi kết hôn với chị. Còn chị đã lớn tuổi, không có khả năng sinh đẻ nữa, chị chỉ có cháu L là con, là chỗ dựa duy nhất sau này khi về già. Hiện nay cháu L đang ở cùng chị, chị là người chăm sóc, nuôi dưỡng cháu từ khi sống ly thân, anh H không có trách nhiệm gì đối với con, cũng không gửi tiền để chị nuôi con. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn anh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị Nguyễn Thị Hoài T kết hôn năm 2017 đăng ký tại UBND phường L, TP S, Thái Nguyên, anh chị kết hôn là tự nguyện không bị ép buộc. Về nguyên nhân dẫn đễn mâu thuẫn vợ chồng do hai người không có cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh cũng nhất trí ly hôn với chị T.
Về con chung: Do chị T không có khả năng sinh con nên vợ chồng anh nhận nuôi cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 15/8/2019 (theo giấy chứng nhận nuôi con nuôi ngày 18/10/2019). Khi ly hôn anh có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh H đề nghị chia tài sản chung là nhà và công trình phụ trên đất ước tính giá trị tài sản là 100.000.000 đồng nhưng không xuất trình các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.
Về nợ chung: Anh H xác định không có.
Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã thụ lý vụ án tranh chấp ly hôn theo yêu cầu khởi kiện.
Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hòa giải cho chị T, anh H về đoàn tụ, nhưng hai bên xác định tình cảm vợ chồng không còn nhất trí thuận tình ly hôn. Về con chung chị T, anh H cả hai đều có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Chị T đã cung cấp cho Tòa án các căn cứ chứng minh công ăn việc làm, nơi sinh hoạt, xác nhận về việc chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, xác nhận việc anh H trước khi kết hôn với chị đã có 02 con riêng là con đẻ của anh H. Anh H không xuất trình tài liệu chứng cứ gì về điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do các đương sự không hòa giải được với nhau nên vụ án phải đưa ra xét xử tại phiên tòa công khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoài T khởi kiện xin ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Văn H. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại T, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa theo đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng anh H vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh H.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H kết hôn năm 2017 đăng ký tại UBND phường L, TP S, Thái Nguyên, trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống chị T và anh H xảy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Chị T, anh H nhất trí thuận tình ly hôn. Có thể thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về quan hệ hôn nhân, cho chị T được ly hôn anh H.
- Về con chung: Vợ chồng có nhận con nuôi là cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 15/8/2019. Xét thấy chị T đã nhiều tuổi, khó có khả năng sinh con và hiện tại con chung đang được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng phát triển tốt. Xét thấy cần giao cháu Nguyễn Gia L cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh H cho đến khi chị T yêu cầu.
- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H đề nghị Tòa án giải quyết về phần tài sản chung bao gồm nhà và công trình phụ trên đất ước tính giá trị tài sản là 100.000.000 đồng nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu chia tài sản chung. Về nợ chung các đương sự đều xác định không có. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung, nợ chung trong vụ án này. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
[3] Về án phí, quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hoài T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 244, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 53,56, 57, 58; 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hoài T, cho chị Nguyễn Thị Hoài T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia L, sinh ngày 15/8/2019 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác. Anh H có quyền đi lại thăm nom con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh H cho đến khi chị T có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
- Về nợ chung: Hai bên đương sự xác định không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hoài T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước, được trừ từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000837 ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
Đinh Thị Lan Anh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hoài Thu - Nguyễn Văn Hướng
