TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày : 18 - 02 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Trọng;
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tơ;
- Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My-Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Liên-Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 245/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm: 1987; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1988; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Minh T1 tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 06/10/2009 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà riêng ở Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quá trình sống chung, thời gian đầu vợ chồng có cuộc sống hạnh phúc. Đến năm 2019, vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Ngoài ra, ông T1 còn hay ăn nhậu say xỉn, xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của bà và còn dùng vũ lực với cháu T2, là con chung của bà và ông T1. Ông T1 không lo làm ăn, chăm lo vợ con mà chỉ có chơi bời, cờ bạc. Bà T cho rằng cuộc sống hôn nhân của vợ chồng bà ngày càng tẻ nhạt, không còn hạnh phúc. Hiện nay, bà không còn tình cảm với ông T1 nữa nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Minh T1.
Về con chung: Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Minh T1 có với nhau 02 con chung là Nguyễn Thu T2, sinh ngày 03/3/2010 và Nguyễn Tường V, sinh ngày 13/10/2017. Khi ly hôn, bà T đề nghị Tòa án giao các con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng vì ông T1 không quan tâm gì đến con cái mà còn đánh đập cháu T2.
Về cấp dưỡng: Dù được Tòa án giải thích người trực tiếp nuôi con chung quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung để bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên, nhưng bà T vẫn không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Minh T1 trình bày:
Ông Nguyễn Minh T1 thừa nhận giữa ông và bà Phạm Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 06/10/2009 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận như bà T trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc, không phát sinh mâu thuẫn gì đáng kể. Vợ chồng ông cũng có xảy ra mâu thuẫn trong vấn đề tiền bạc. Thời gian gần đây vợ chồng ông cũng ít quan tâm đến nhau. Nay vì ông T1 vẫn còn tình cảm với bà T và vì con cái nên ông không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T.
Ông Nguyễn Minh T1 thừa nhận giữa ông và bà Phạm Thị T có với nhau 02 con chung là Nguyễn Thu T2, sinh ngày 03/3/2010 và Nguyễn Tường V, sinh ngày 13/10/2017 như bà T trình bày. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tường V. Về con chung Nguyễn Thu T2 thì cháu T2 chọn sống cùng ai thì sẽ tôn trọng ý kiến của cháu. Ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Do vậy, Tòa án lập biên bản xác nhận vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hơn lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T: Cho bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Minh T1; giao con chung Nguyễn Thu T2, sinh ngày: 03/3/2010 và Nguyễn Tường V, sinh ngày 13/10/2017 cho bà Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung, do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Phạm Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Minh T1; yêu cầu Tòa án giao con chung Nguyễn Thu T2 và Nguyễn Tường V cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con; do bị đơn có nơi cư trú tại Khu phố B, thị trấn T, huyện H nên Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Minh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Minh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 35/2009 ngày 06/10/2009. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà T, ông T1 đủ điều kiện kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà T, ông T1 là hợp pháp.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc ly hôn với ông Nguyễn Minh T1, Hội đồng xét xử thấy: Bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 vì cho rằng vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, ông T1 hay nhậu nhẹt, không lo làm ăn, chăm sóc gia đình và có lời lẽ xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của bà T; vợ chồng không còn quan tâm nhau. Ông T1 cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn trong vấn đề tiền bạc, vợ chồng cũng ít quan tâm nhau; còn những vấn đề khác tuy có mâu thuẫn nhưng không đáng kể. Qua xác minh tại địa phương, xác nhận rằng ông T1 và bà T thường xảy ra mâu thuẫn về vấn đề tiền bạc, cụ thể là ông T1 không lo làm ăn, không phụ giúp vợ trong kinh tế của gia đình cũng như không chăm lo đến các con, ông T1 còn chơi bài bạc và nhậu nhẹt. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù ông T1 có ý kiến không đồng ý ly hôn vì cho rằng mình còn tình cảm với bà T nhưng ông không có động thái nào để hàn gắn tình cảm, trong khi bà T thì kiên quyết ly hôn với ông. Với những phân tích trên, có đủ cơ sở để khẳng định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2, khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số: 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
[5] Về con chung: Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Minh T1 có với nhau 02 con chung là Nguyễn Thu T2, sinh ngày 03/3/2010 và Nguyễn Tường V, sinh ngày 13/10/2017. Khi ly hôn, bà T đề nghị Tòa án giao các con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng vì từ trước đến nay, bà là người trực tiếp chăm sóc các con; hơn nữa, thu nhập của bà ổn định hơn so với ông T1. Trong khi đó, ông T1 không quan tâm đến các con. Về phía ông Nguyễn Minh T1, ông yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tường V, còn đối với cháu Nguyễn Thu T2 thì cháu muốn sống cùng ai ông T1 sẽ tôn trọng ý kiến của cháu. Hội đồng xét xử thấy rằng, nếu chỉ xét về khả năng nuôi con thì giao cháu T2 cho bà T, giao cho cháu V cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Tuy nhiên, tại các biên bản làm việc vào ngày 09/12/2024, cháu T2 và cháu V đều có nguyện vọng ở với bà T. Qua xác minh tại địa phương thể hiện ông T1 không chăm lo cho con cái mà còn bài bạc, ăn nhậu, điều này phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn. Mặt khác, cháu T2, cháu V thuộc giới tính nữ, cùng chung sống với nhau từ trước đến nay, việc giao cho bà T, ông T1 mỗi người nuôi một cháu có thể làm ảnh hưởng đến tâm lý và cuộc sống bình thường của các cháu. Do đó, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu T2 và cháu V, có xem xét đến nguyện vọng của các cháu, nghĩ nên giao các con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[6] Về cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích cho nguyên đơn rõ về quyền yêu cầu cấp dưỡng của người trực tiếp nuôi con để bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên nhưng nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[7] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Khoản 2, khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số: 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- - Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Minh T1;
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thu T2, sinh ngày 03/3/2010 và Nguyễn Tường V, sinh ngày 13/10/2017 cho bà Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Minh T1 có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của các con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011018 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Tân. Bà Phạm Thị T đã nộp đủ án phí.
- Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Trọng |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thu - tuấn
