Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚC YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Số: 04/2025/HNGĐ - ST

Ngày 14 tháng 02 năm 2025

“V/v: Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và bà Phan Thị Nhung.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024, về việc: Ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số nhà E, phố Đ, tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số nhà E, phố Đ, tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.

Hiện đang tạm trú tại: Đường N, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 10 năm 2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, thị xã P (cũ) nay là thành phố P vào ngày 21 tháng 11 năm 2008. Trước khi kết hôn, cả hai người đều được tự do tìm hiểu nhau. Quá trình chung sống, ban đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc và sinh được 03 người con. Đến khoảng đầu năm 2023, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do chị H đi làm nhân viên spa ở thành phố Hà Nội thường xuyên bỏ bê gia đình, không quan tâm chăm sóc đến anh và các con. Anh có khuyên bảo nhưng chị H không nghe, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Khi gia đình hai bên nội ngoại biết việc vợ chồng anh dạn nứt tình cảm thì cả hai bên gia đình và bản thân anh đều cũng đã tìm mọi biện pháp để vợ chồng hàn gắn lại tình cảm, động viên chị H không đi làm xa nữa mà về làm gần nhà để cùng anh chăm sóc các con nhưng không có kết quả. Chị H, chủ động cắt đứt mọi liên lạc đối với anh. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn lại được với nhau nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Toà án không lấy được lời khai của chị H.

Toà án làm việc với bà Khổng Thị H1 (bà H1 là mẹ đẻ của chị H). Bà H1 cung cấp cho Toà án nội dung. Bà và chị H vẫn thường xuyên liên lạc với nhau bằng điện thoại. Những lúc chị H về thăm gia đình, chị H về bên nhà bà ở nên bà là người trực tiếp nhận các văn bản của Toà án gửi cho chị H thay chị H. Sau khi bà nhận được bất kỳ văn bản gì của Toà án, bà cũng điện thoại báo tin ngay cho chị H và chụp ảnh văn bản đó gửi vào ních Zalo của chị H để cho chị H nắm được. Bà cam đoan là yêu cầu xin ly hôn của anh T tại Toà án, chị H đã biết. Chị H có nói cho bà nghe quan điểm của chị H là đồng ý ly hôn với anh T, không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh T xác nhận, vợ chồng anh chị có 03 con chung là cháu Nguyễn Yến V, sinh ngày 11 tháng 5 năm 2009; cháu Nguyễn Hoàng V1, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2012 và cháu Nguyễn Lan P, sinh ngày 08 tháng 4 năm 2021. Hiện tại, cả 03 con chung đều đang ở cùng với anh. Ly hôn, anh T có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 con chung. Anh T, tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh.

Nguyện vọng của cháu Nguyễn Yến V và cháu Nguyễn Hoàng V1 đều xin được ở với bố.

Về tài sản chung, tài sản riêng, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với các đương sự thì nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, còn bị đơn đã vi phạm các quy định của Bộ T1, không có mặt tham gia đầy đủ các buổi làm việc trong quá trình gia tố tụng tại Toà án. Tuy nhiên, Toà án đã tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn nên Viện kiểm sát không có kiến nghị khắc phục gì.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51; 56; 81; 82; 83 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn T và cho anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

- Về con chung: Giao cho anh T được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 con chung là cháu Nguyễn Yến V, sinh ngày 11 tháng 5 năm 2009; cháu Nguyễn Hoàng V1, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2012 và cháu Nguyễn Lan P, sinh ngày 08 tháng 4 năm 2021. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh T và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Sau này, nếu chị H muốn chuyển dịch quyền nuôi con thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

- Về tài sản chung, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Anh T không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí: Anh T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn T là nguyên đơn, khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị H. Hiện tại, chị H đang cư trú tại thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về ly hôn, theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc cho nên Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự tố tụng dân sự.

[2]. Anh Nguyễn Văn T là nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, chị Nguyễn Thị H là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T và chị H theo thủ tục chung.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Anh T xác định, tình cảm vợ chồng giữa anh và chị H không còn và không thể hàn gắn lại được với nhau nên anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H. Căn cứ vào lời trình bày của anh T trong quá trình giải quyết vụ án và trên cơ sở kết quả xác minh thu thập chứng cứ của Toà án tại chính quyền địa phương, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Anh T và chị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc vào ngày 21 tháng 11 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường X, thị xã P (cũ) nay là thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc nên cần xác định đây là cuộc hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Quá trình chung sống, anh T xác định và bà H1 (mẹ đẻ chị H) thừa nhận. Vợ chồng anh T có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do, trong cuộc sống hàng ngày, anh T chị H thường xuyên bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thiếu sự quan tâm chia sẻ. Anh T xin ly hôn, chị H có biết nhưng chị H bỏ mặc không về để tìm biện pháp hàn gắn lại tình cảm, hiện tại vợ chồng đang sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân, cả hai người không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau, cả hai người đều chủ động cắt đứt mọi liên lạc với nhau. Điều này chứng tỏ, tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị H đã dạn nứt đến mức độ trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của anh T là có cơ sở nên căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận và cho anh T được ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh T xác nhận, vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Yến V (giới tính: nữ), sinh ngày 11/5/2009; cháu Nguyễn Hoàng V1 (giới tính: nam), sinh ngày 11/3/2012 và cháu Nguyễn Lan P (giới tính: nữ), sinh ngày 08/4/2021. Hiện tại, cả 03 con chung đều đang ở cùng với anh T. Ly hôn, anh T có nguyện vọng xin được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tất cả các con chung. Nguyện vọng của các con anh T, chị H đều xin được ở với bố.

Xét thấy: Việc nuôi dạy và chăm sóc con vừa là quyền lợi và cũng là nghĩa vụ của cả cha và mẹ. Nguyện vọng của anh T xin được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tất cả các con chung, hiện tại chị H vắng mặt. Toà án không lấy được lời khai của chị H, nguyện vọng của các con anh T, chị H đều xin được ở với bố. Căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, thấy rằng nguyện vọng của anh T và các con anh T phù hợp với hoàn cảnh sống của gia đình anh T hiện nay đồng thời tránh làm sáo trộn tâm lý của các con; phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử cần giao cho anh T được quyền tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả 03 con chung. Sau này, nếu chị H có nguyện vọng xin dịch chuyển quyền nuôi con thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác. Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc con chung của chị H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Anh Nguyễn Văn T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5]. Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên./.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51; 56; 57; 81; 82; 83 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
  2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T được quyền tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Yến V (giới tính: nữ), sinh ngày 11/5/2009; cháu Nguyễn Hoàng V1 (giới tính: nam), sinh ngày 11/3/2012 và cháu Nguyễn Lan P (giới tính: nữ), sinh ngày 08/4/2021. Chị Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh T và có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0004161 ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Xác nhận, anh Nguyễn Văn T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Bích Hạnh

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Phúc Yên;`
  • - Chi cục THADS thành phố Phúc Yên;
  • - Ủy ban nhân dân phường Xuân Hoà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ - ST ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger