TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:04/2025/HNGĐ - ST Ngày:10/3/2025 Về “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thủy.
- Các hội thẩm nhân dân
1. Bà Vũ Thị Luyến.
2. Bà Nguyễn Thị Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Hồng Thanh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên tòa: Ông Đào Việt Yên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại hội trường Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 230/2024/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/02/2025; quyết định hoãn phiên toà số 02 ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Q, sinh năm 1974;
- Bị đơn: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1975;
Cùng địa chỉ: Xóm Q, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
(Bà Q vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, ông K vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị Q trình bày: Bà và ông Phạm Văn K tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 1992, được gia đình hai bên cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và bà nhớ là hai vợ chồng có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, nhưng đến nay do nhiều lần chuyển nhà nên bà không còn giữ được giấy đăng ký kết hôn nữa và bà cũng đã xin xác nhận của Ủy ban nhân dân xã M nhưng Ủy ban nhân dân xã M không còn lưu giữ được sổ đăng ký kết hôn từ năm 1992, nên không thể cấp trích lục cho bà. Sau khi cưới, bà về nhà ông K làm dâu. Tình cảm vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 10 năm sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, cách sống và một phần cũng do kinh tế gia đình khó khăn, bên cạnh đó ông K không tu chí làm ăn mà thường xuyên uống rượu và gây áp lực cho bà và các con. Vì thế mà cuộc sống vợ chồng trở nên căng thẳng và không có hạnh phúc, vợ chồng không còn tìm tiếng nói chung và thường xuyên cãi nhau và ông bà đã sống ly thân nhau từ năm 2013 đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông K nữa nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K.
Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có ba con chung là: Phạm Việt C, sinh năm 1993 (đã chết), Phạm Thị C1, sinh năm 1996 và Phạm Hải N, sinh năm 2000, hiện nay chị C1 và anh N đã khôn lớn trưởng thành nên khi ly hôn bà không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung, các khoản cho vay chung: Trong quá trình chung sống ông bà không có nợ chung, các khoản cho vay chung không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Phạm Văn K các văn bản của Tòa án như: Thông báo thụ lý, thông báo phiên họp về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ông K đi làm không có ở nhà, trưởng xóm Q là ông Nguyễn Đức D nhận thay các văn bản trên và đã cam kết sẽ giao cho ông K toàn bộ giấy tờ trên. Tòa án cũng đã trực tiếp liên hệ qua điện thoại và Z cho ông K, nhưng đến nay ông K vẫn không đến Tòa án để làm việc và trình bày quan điểm về việc bà Q xin ly hôn với ông.
Qua xác minh, T xóm Quân X cung cấp thông tin bà Lê Thị Q và ông Phạm Văn K tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau tại xóm Q, xã P từ năm 1992, hiện nay ông K vẫn sống tại địa phương nhưng đang đi làm ăn và vẫn hay về nhà, còn việc giữa bà Q và ông K có mâu thuẫn hay không thì chính quyền địa phương không nắm được. Quá trình chung sống ông K và bà Q có ba con chung là Phạm Việt C, sinh năm 1993 (đã chết), Phạm Thị C1, sinh năm 1996 và Phạm Hải N, sinh năm 2000, hiện các con đều đã trưởng thành.
Toà án đã tiến hành xác minh với Ủy ban nhân dân xã M và xác định được: Hiện tại Ủy ban nhân dân xã M không còn lưu trữ sổ sách, tài liệu liên quan đến đăng ký kết hôn từ năm 1992.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, 96, 97, 195, 203, 205, 207, 208, 209, 210 và Điều 211 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình:
Tuyên xử: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Q và ông Phạm Văn K.
- Về con chung: Không đặt ra việc giải quyết.
- Về tài sản chung: Không đặt ra việc xem xét giải quyết;
- Về án phí: Bà Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật để nộp ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
Về thủ tục tố tụng: Thụ lý đơn khởi kiện: Ngày 09/9/2024, bà Q nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, sau đó bà Q có đơn đề nghị tạm dừng việc thụ lý đơn khởi kiện do có việc đột xuất vắng mặt tại địa phương. Đến ngày 18/10/2024, bà Q có đơn đề nghị tiếp tục xem xét thụ lý đơn khởi kiện, cùng ngày Toà án đã giao “Thông báo sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện” cho bà Q. Ngày 21/10/2024, bà Q đã nộp lại đơn khởi kiện; ngày 22/10/2024 bà Q nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, cùng ngày Tòa án thụ lý vụ án, đảm bảo theo quy định tại khoản 3 Điều 191 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về yêu cầu “ly hôn” giữa nguyên đơn bà Lê Thị Q và ông Phạm Văn K. Ông K có hộ khẩu tại xóm Q, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn tại phiên toà: Tại phiên toà lần thứ hai, nguyên đơn bà Lê Thị Q vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Phía ông K đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà. Tại phiên toà lần thứ hai ông K vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành một số biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Q và ông K xác lập quan hệ vợ chồng từ năm 1992, có cưới hỏi theo phong tục, tập quán địa phương, nhưng ông bà không xuất trình được tài liệu về việc đăng ký kết hôn thời điểm năm 1992 và cho đến nay ông bà vẫn không đi đăng ký kết hôn.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.
Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”
Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”.
Từ những căn cứ trên thấy rằng: Việc chung sống giữa bà Q và ông K không có đăng ký kết hôn nên không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay bà Q có đơn xin ly hôn với ông K nên cần áp dụng khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Q và ông K là đúng quy định của pháp luật.
Về con chung: Bà Q xác định, trong quá trình chung sống bà và ông K có ba con chung là: Phạm Việt C, sinh năm 1993 (đã chết), Phạm Thị C1, sinh năm 1996 và Phạm Hải N, sinh năm 2000, hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, nên không đặt ra việc giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Q xác định vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết, nên toà án không đặt ra việc xem xét giải quyết.
Về nợ chung, các khoản cho vay chung: Bà Q xác định trong quá trình chung sống bà và ông K không có nợ chung, các khoản cho vay chung không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không đặt ra việc xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị Q phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 Điều 266, 271, 273, 486 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53, Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị Q và ông Phạm Văn K là vợ chồng.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Q và ông K có ba con chung là: Phạm Việt C, sinh năm 1993 (đã chết), Phạm Thị C1, sinh năm 1996 và Phạm Hải N, sinh năm 2000, hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, nên không đặt ra việc giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Q xác định vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không đặt ra việc xem xét giải quyết.
Về nợ chung, các khoản cho vay chung: Bà Q xác định trong quá trình chung sống bà và ông K không có nợ chung, các khoản cho vay chung không có, nên không đặt ra việc xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị Q phải chịu 300.000đ án phí Ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, tại biên lai số 0001900 ngày 22/10/2024.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt bà Q1 và ông K báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hà Thị Thu Thủy |
Bản án số 04/2025/HNGĐ - ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Q xin ly hôn với anh K
