Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 20-02-2025

V/v tranh chấp về chia

tài sản sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.

Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng .

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Ông Đinh Văn Lai – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2024/TLPT- HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 01/2025/QĐ-PT ngày 22/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1982

Nơi cư trú: Số H đường số A, xóm B, thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1970

Nơi cư trú: Số B đường T, xóm B, thôn D, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:

Bà và bị đơn ông Nguyễn Văn Q trước đây là vợ chồng, nhưng đã được Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh giải quyết cho ly hôn theo Bản án số 27/2017/HNGĐ-ST, ngày 13/7/2017; tại thời điểm đó, các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Tòa án chưa giải quyết về tài sản chung.

Quá trình chung sống bà T, ông Q tạo dựng được các tài sản chung gồm: Thửa đất số 163, tờ bản đồ số 17, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 181017, cấp ngày 19/05/2000, tọa lạc tại thôn D, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 căn nhà xây cấp 4, 01 nhà vệ sinh và 01 cái giếng đào thả bị trên thửa đất này.

Nguồn gốc thửa đất 163 nêu trên là do bà T, ông Q nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn K, bà Võ Thị C (là vợ chồng anh ruột của ông Q) vào năm 2002 với giá 28.000.000 đồng. Trước đó ông K, bà C cho anh Q mượn đất này để mở tiệm điện cơ; sau khi bà T, ông Q kết hôn thì ông K, bà C mới chuyển nhượng đất này lại cho bà T, ông Q. Tiền chuyển nhượng là tài sản chung của bà T, ông Q; tuy nhiên hai bên không lập hợp đồng hay viết giấy tờ để ghi nhận nên hiện nay bà T không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Sau khi nhận chuyển nhượng; bà T, ông Q sử dụng đất ổn định đến năm 2007 thì xây dựng nhà ở cấp 4 và các công trình khác trên đất (hiện nay đang tồn tại trên đất); chi phí xây dựng căn nhà và các công trình này là tài sản chung của bà T, ông Q. Bà T, ông Q sử dụng nhà, đất này ổn định cho đến khi bà T, ông Q ly hôn thì ông Q trực tiếp sử dụng cho đến nay; còn bà T về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Khi ly hôn, hai bên vẫn chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nên thửa đất số 163 vẫn do hộ ông K đứng tên chủ sử dụng. Đến năm 2020, ông Q nói thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất này cho ông Q đứng tên chủ sử dụng đất để sau này tặng cho lại cho con chung của bà T, ông Q; bà T cũng muốn tặng cho lại quyền sử dụng thửa đất này cho con nên đã đồng ý. Sau đó ông Q thực hiện hoàn tất thủ tục chuyển quyền sử dụng cho ông Q đứng tên chủ sử dụng đối thửa đất 163 nêu trên. Tuy nhiên, hiện nay ông Q cho rằng quyền sử dụng thửa đất 163 này là tài sản của cá nhân ông Q, không muốn tặng cho lại cho con chung; các bên không hòa giải được do đó bà T khởi kiện yêu cầu giải quyết.

Cụ thể bà T yêu cầu giải quyết các vấn đề sau: Chia theo quy định của pháp luật đối với các tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 163 nêu trên, 01 căn nhà xây cấp 4, 01 nhà vệ sinh và 01 cái giếng đào thả bị trên thửa đất số 163; cho ông Q, bà T mỗi người được quyền sở hữu, sử dụng 50% giá trị tài sản chung nêu trên; bà Thương yêu C1 được nhận tất cả tài sản này và trả lại tiền chênh lệch về tài sản được hưởng cho ông Q, để bà T có nhà ở nhằm có điều kiện nuôi con được tốt hơn. Đối với 01 chái nhà tạm và 30 cây cau trên thửa đất số 163 nêu trên: là tài sản của cá nhân ông Q; do đó bà T không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra bà T không có yêu cầu nào khác trong vụ án.

Hiện nay bà T đang sống ở căn nhà chung với một người em của bà T; căn nhà này do em của bà T xây dựng để sử dụng chung và được xây dựng trên đất do cha mẹ bà T cho chung hai chị em bà T.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân thì ông Q thống nhất như nội dung bà T trình bày.

Quá trình chung sống bà T, ông Q chỉ tạo dựng được các tài sản chung gồm: 01 căn nhà xây cấp 4 có diện tích khoảng 50m², 01 nhà vệ sinh, 01 cái giếng đào thả bi; tất cả được xây dựng trên thửa đất số 163, tờ bản đồ số 17, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 181017, cấp ngày 19/05/2000, địa chỉ tại: Số B, đường T, xóm B, thôn D, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Thửa đất số 163 nêu trên là tài sản của riêng cá nhân ông Q. Nguồn gốc thửa đất này là do cá nhân ông Q nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn K, bà Võ Thị C (là vợ chồng anh ruột của ông Q) vào năm 2000, trước thời điểm ông Q kết hôn với bà T. Hiện nay ông Q không nhớ giá chuyển nhượng nhưng ông Q đã trả đủ tiền chuyển nhượng vào năm 2000, trước thời điểm ông Q kết hôn với bà T, tiền chuyển nhượng là tài sản của cá nhân ông Q. Sau khi kết hôn với bà T, do giá đất tăng nên ông K, bà C yêu cầu trả thêm tiền; lúc đó ông Q, bà T mới trả thêm tiền cho ông K, bà C. Hai bên không lập hợp đồng hay lập giấy tờ để ghi nhận việc chuyển nhượng và việc thanh toán tiền chuyển nhượng nên hiện nay ông Q không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì thửa đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông K nhưng hai bên chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nên thửa đất này vẫn do hộ ông K đứng tên chủ sử dụng. Sau khi ông Q kết hôn với bà T, thì vợ chồng cùng sử dụng thửa đất số 163 này. Đến năm 2007 vợ chồng xây dựng 01 căn nhà xây cấp 4 cùng các công trình phụ trên đất và cùng sử dụng cho đến khi Tòa án giải quyết cho ly hôn thì bà T cùng 02 người con về nhà cha mẹ bà T sinh sống, còn ông Q sử dụng nhà, đất này cho đến nay. Đến năm 2020, ông Q thực hiện hoàn tất thủ tục chuyển nhượng và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T ghi nhận nội dung chuyển nhượng tại mục IV Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 181017. Do bà T, ông Q đã ly hôn nên Cơ quan có thẩm quyền không yêu cầu bà T ký giấy tờ, tài liệu gì liên quan đến việc thực hiện thủ tục chuyển nhượng. Hiện nay trên thửa đất 163 này có những tài sản gồm: 01 căn nhà cấp 4, 01 chái nhà gỗ, 01 nhà vệ sinh, 01 cái giếng đào thả bi và 30 cây cau; ngoài ra không có tài sản gì có giá trị. Ngoài thửa đất số 163 nêu trên thì hiện nay ông Q không có nhà đất nào khác. Hiện nay bà T đã có nhà ở ổn định được xây dựng trên đất do cha mẹ bà T cho.

Quyền sử dụng thửa đất 163 nêu trên là tài sản của cá nhân ông Q do đó ông Q không chấp nhận yêu cầu của bà T về việc chia thửa đất này. Đối với 01 căn nhà cấp 04, 01 nhà vệ sinh, 01 cái giếng đào thả bi: là tài sản chung của ông Q, bà T thì ông Q chấp nhận chia theo quy định của pháp luật, ông Q yêu cầu được sở hữu các tài sản và trả lại tiền chênh lệch cho bà T. Đối với 01 chái nhà tạm và 30 cây cau trồng trên thửa đất số 163: là tài sản của cá nhân ông Q, do đó ông Q không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra ông Q không có yêu cầu nào khác trong vụ án.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn K, bà Võ Thị C trình bày:

Ông Nguyễn Văn K, bà Võ Thị C là vợ chồng. Ông K là anh ruột của bị đơn ông Nguyễn Văn Q. Thửa đất số 163, tờ bản đồ số 17, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 181017, cấp ngày 19/05/2000, tọa lạc tại Số B, đường T, xóm B, thôn D, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận có nguồn gốc là do ông K, bà C chuyển nhượng lại cho ông Q trước khi ông Q kết hôn với bà Trần Thị T; hiện nay ông K, bà C không nhớ thời điểm chuyển nhượng và giá chuyển nhượng; tuy nhiên ông Q chưa thanh toán đủ tiền chuyển nhượng. Sau khi ông Q kết hôn với bà T thì bà T, ông Q mới thanh toán đủ tiền chuyển nhượng còn lại.

Người làm chứng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị T1 là vợ chồng. Ông L là anh ruột của bị đơn ông Nguyễn Văn Q. Thửa đất số 163, tờ bản đồ số 17, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 181017, cấp ngày 19/05/2000, tọa lạc tại Số B, đường T, xóm B, thôn D, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận có nguồn gốc là do ông Nguyễn Văn Q, bà Trần Thị T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn K, bà Võ Thị C. Trước khi ông Q kết hôn với bà T, ông K có cho ông Q mượn 01 phần thửa đất này xây dựng 01 chái nhà tạm sử dụng làm tiệm điện cơ. Sau khi ông Q và bà T kết hôn thì ông K mới chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất này lại cho ông Q, bà T. Ông L, bà T1 không nhớ giá chuyển nhượng nhưng qua thông tin gia đình cho biết thì toàn bộ tiền chuyển nhượng thanh toán cho ông K là tài sản chung của ông Q, bà T.

Sau khi hòa giải không thành,

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh đã đưa vụ án ra xét xử tại bản án số 111/2024/HNGĐ-ST, quyết định:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 2 điều 147, các khoản 2 Điều 229, các Điều 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Khoản 1 Điều 33, các Điều 46, 59, 62 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • Các Điều 213, 219 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T:

Chia cho ông Nguyễn Văn Q được quyền sử dụng thửa đất số 163 tờ bản đồ số 17 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 181017 cấp ngày 19/05/2000, tọa lạc tại xóm B, thôn D, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện mục đích sử dụng đất là thổ canh, ký hiệu là Tn; nay là thửa đất số 159 tờ bản đồ số 118 có diện tích 213,2m² theo Mảnh chỉnh lý khu đất ngày 26/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T (Kèm theo Bản án này còn có Mảnh chỉnh lý khu đất ngày 26/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T).

Ông Nguyễn Văn Q có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh, đăng ký quyền sử dụng đối với diện tích đất biến động tăng.

Chia cho ông Nguyễn Văn Q được quyền sở hữu 01 căn nhà xây cấp 4, 01 nhà vệ sinh, 01 mái che tạm và 01 cái giếng đào thả bị xây dựng trên thửa đất số 163 nêu trên.

Buộc ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị T tổng giá trị chênh lệch của tài sản được hưởng là 403.538.500 đồng (Bốn trăm lẽ ba triệu năm trăm ba mươi tám ngàn năm trăm đồng).

Không chấp nhận phần yêu cầu của bà Trần Thị T về việc chia cho bà T được quyền sử dụng thửa đất số 163 và các tài sản trên thửa đất số 163 nêu trên.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên các quyết định khác về lãi suất chậm trả, án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự, quy định về nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án.

Ngày 12/11/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn Q kháng cáo yêu cầu sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh theo hướng bác một phần yêu cầu khởi kiện của bà T, xác định thửa đất số 163, tờ bản đồ số 17 là tài sản riêng của ông Q, từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc chia thửa đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Văn Q không rút yêu cầu kháng cáo, bà Trần Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Văn Q: Thửa đất số 163 đang tranh chấp là tài sản riêng của ông Q, ông chỉ đồng ý chia cho bà T tài sản chung là 01 căn nhà xây cấp 4, 01 nhà vệ sinh, 01 mái che tạm và 01 cái giếng đào thả bi; yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của bà T về chia thửa đất trên.

Ý kiến của nguyên đơn bà Trần Thị T: Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q yêu cầu bác một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T, xác định thửa đất số 163, tờ bản đồ số 17 là tài sản riêng của ông Q, từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc chia thửa đất. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Ông Nguyễn Văn Q và bà Trần Thị T kết hôn năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Về nguồn gốc thửa đất số 163 nêu trên bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Q trình bày không thống nhất với nhau, tuy nhiên căn cứ vào lời khai của người làm chứng là anh ruột của ông Q là ông Nguyễn Văn K và ông Nguyễn Ngọc L thì nguồn gốc thửa đất số 163 là do ông Nguyễn Văn Q nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Văn K, bà Võ Thị C trước khi kết hôn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 181017 ngày 19/5/2000 nhưng ông Q chưa thanh toán đủ tiền chuyển nhượng; sau khi ông Q, bà T kết hôn thì ông Q, bà T mới thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng còn lại và được cập nhật biến động sang tên cho ông Nguyễn Văn Q vào ngày 21/01/2020. Như vậy, có căn cứ để xác định việc chuyển nhượng đất giữa ông Q và vợ chồng ông K, bà C hoàn thành sau khi ông Q kết hôn với bà T.

Theo khoản 2 Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật”.

Sau khi nhận chuyển nhượng đất xong, giữa ông Q và bà T không có thỏa thuận, cũng không lập thành văn bản nào về việc xác định thửa đất số 163 là tài sản riêng của ông Q trước khi kết hôn. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, năm 2007 ông Q, bà T xây căn nhà xây cấp 4, 01 mái che tạm, 01 nhà vệ sinh và 01 cái giếng đào thả bị trên thửa đất số 163 này ông Q, bà T cùng sử dụng ổn định cho đến thời điểm vợ chồng ly hôn vào năm 2017 và ông cũng không có ý kiến gì. Tại thời điểm Toà án giải quyết ly hôn thì ông Q và bà T cũng chưa yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung.

Do đó, có căn cứ để khẳng định thửa đất số 163 là tài sản chung của vợ chồng ông Q và bà T trong thời kỳ hôn nhân. Ông Q cho rằng thửa đất số 163 là tài sản riêng của ông Q trước thời kỳ hôn nhân nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo này.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q. Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

[3] Về án phí:

Do kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q không được chấp nhận nên ông Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q.

Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ vào:

  • Khoản 2 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 2 điều 147, các khoản 2 Điều 229, các Điều 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Khoản 1 Điều 33, các Điều 46, 59, 62 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • Các Điều 213, 219 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T:

Chia cho ông Nguyễn Văn Q được quyền sử dụng thửa đất số 163 tờ bản đồ số 17 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 181017 cấp ngày 19/05/2000, tọa lạc tại xóm B, thôn D, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện mục đích sử dụng đất là thổ canh, ký hiệu là Tn; nay là thửa đất số 159 tờ bản đồ số 118 có diện tích 213,2m² theo Mảnh chỉnh lý khu đất ngày 26/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T (Kèm theo Bản án này còn có Mảnh chỉnh lý khu đất ngày 26/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T).

Ông Nguyễn Văn Q có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh, đăng ký quyền sử dụng đối với diện tích đất biến động tăng.

Chia cho ông Nguyễn Văn Q được quyền sở hữu 01 căn nhà xây cấp 4, 01 nhà vệ sinh, 01 mái che tạm và 01 cái giếng đào thả bị xây dựng trên thửa đất số 163 nêu trên.

Buộc ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị T tổng giá trị chênh lệch của tài sản được hưởng là 403.538.500đồng (Bốn trăm lẽ ba triệu năm trăm ba mươi tám ngàn năm trăm đồng).

[2]. Không chấp nhận phần yêu cầu của bà Trần Thị T về việc chia cho bà T được quyền sử dụng thửa đất số 163 và các tài sản trên thửa đất số 163 nêu trên.

[3]. Về chi phí tố tụng:

Buộc bà Trần Thị T có nghĩa vụ chịu 2.945.500đồng (Hai triệu chín trăm bốn mươi lăm ngàn năm trăm đồng) chi phí tố tụng trong vụ án (Gồm ½ chi phí xem xét thẩm định + đo đạc và ½ chi phí định giá tài sản); khấu trừ vào 5.891.000đồng tạm ứng chi phí tố tụng mà bà Trần Thị T đã nộp; sau khi khấu trừ, bà Trần Thị T đã nộp đủ chi phí tố tụng.

Buộc ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị T 2.945.500đồng (Hai triệu chín trăm bốn mươi lăm ngàn năm trăm đồng) chi phí tố tụng trong vụ án (Gồm ½ chi phí xem xét thẩm định + đo đạc và ½ chi phí định giá tài sản).

[4]. Về án phí:

Buộc bà Trần Thị T có nghĩa vụ nộp 20.142.000đồng (Hai mươi triệu một trăm bốn mươi hai ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; khấu trừ vào 7.500.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007586 ngày 18/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, bà Trần Thị T còn phải nộp 12.642.000đồng án phí.

Buộc ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ nộp 20.142.000đồng (Hai mươi triệu một trăm bốn mươi hai ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000đồng(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006364 ngày 20/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. Ông Q đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20/02/2025)./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND huyện Tánh Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Tánh Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger