Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 04/4/2025

V/v ly hôn và tranh chấp tài sản chung sau ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hạng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Tín

Bà Lương Ngọc Yến Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/2025/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp tài sản chung sau ly hôn”.

Do có kháng cáo của nguyên đơn bà Trịnh Thị H và bị đơn ông Phạm Công U đối với bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXPT-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 02 năm 2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2025/QĐPT-DS ngày 06 tháng 3 năm 2025 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 01/2025/TB-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Công U, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Các ông bà Vũ Như H1, Phan Thị Ngọc H2, Võ Minh N - Luật sư, Công ty TNHH MTV V1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. (Luật sư H1 có mặt; các luật sư H2 và N vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trịnh Thị H trình bày:

Bà Trịnh Thị H và ông Phạm Công U tự nguyện kết hôn vào năm 2006 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (giấy chứng nhận kết hôn số 112, quyển số 02/2006 ngày 29/12/2006)

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc nhưng sau đó bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông U không còn chung thủy với bà H mà có quan hệ ngoại tình, hiện nay đã bỏ nhà ra chung sống với người khác. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông U.

Về con chung: Bà và ông Phạm Công U có 02 con chung là Phạm Lan A, sinh ngày 24/11/2007; Phạm Mạnh H3, sinh ngày 21/3/2012. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con chung và yêu cầu ông U cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi cháu 5.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Bà và ông Phạm Công U có tạo lập được một số tài sản chung trong đó có:

- Nhà và đất tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 60, tọa lạc tại tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH05933 ngày 05/8/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố C đứng tên bà Trịnh Thị H)

- Đất tại thửa đất số 333, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS12050 ngày 01/6/2020 của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K đứng tên ông Phạm Công U).

- Một xe ô tô hiệu KIA màu đen, biển kiểm soát 79A - 34728 đứng tên ông Phạm Công U.

Bà yêu cầu được quản lý sử dụng toàn bộ nhà, đất, giao cho ông U sở hữu xe ô tô, không ai phải hoàn tiền cho ai.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Công U trình bày:

Quá trình kết hôn đúng như bà H đã trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên nay bà H xin ly hôn, ông đồng ý.

Về con chung: ông và bà H có 02 con chung là: Phạm Lan A, sinh ngày 24/11/2007, Phạm Mạnh H3, sinh ngày 21/3/2012. Ông yêu cầu nuôi 02 con, không cần bà H cấp dưỡng hoặc mỗi người nuôi một con, không ai cấp dưỡng hoặc bà H nuôi cả 02 con, ông không cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Ông bà có hai lô đất gồm thửa 88, tờ bản đồ số 60, tọa lạc tại tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa và thửa 333, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa cùng 01 xe ô tô hiệu KIA màu đen, biển kiểm soát 79A - 34728 đứng tên đăng ký xe Phạm Công U. Lô đất thửa 333, tờ bản đồ số 51 là vợ chồng ông mua chung với chị gái ông, ông đề nghị vợ chồng tự thương lượng giải quyết tài sản, nếu vợ ông có yêu cầu Tòa án chia tài sản thì bà H tự chịu án phí, ông không chịu án phí. Ngoài ra vợ chồng ông còn mua chung thửa đất thửa 123, tờ bản đồ số 80, tọa lạc tại tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa với ông Hoàng Văn L, Vũ Thị V với giá 1.448.000.000 đồng. Ông yêu cầu đưa lô đất này vào tài sản chung nhưng không yêu cầu Tòa án phân chia để vợ chồng ông tự thỏa thuận.

Tại Bản án sơ thẩm số: 57/2024/HNGĐ-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định: Căn cứ Điều 28, Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, Bà Trịnh Thị H được ly hôn ông Phạm Công U.
  2. Về con chung: Giao cho bà Trịnh Thị H nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Lan A, sinh ngày: 24/11/2007; Giao cho ông Phạm Công U nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Mạnh H3, sinh ngày: 21/3/2012, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về tài sản chung:

    - Giao cho bà Trịnh Thị H được quản lý, sử dụng thửa đất số 88, tờ bản đồ số 60, địa chỉ tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, diện tích theo đo vẽ thực tế là 289,7m² đã được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH058933 ngày 05/8/2016 đứng tên bà Trịnh Thị H. Bà H được sở hữu các tài sản trên đất gồm: 01 nhà cấp 4 có kết cấu: nhà ở 02 tầng, 1 tum, nền lát gạch men, cửa đi và cửa sổ nhôm kính, tường gạch xây tô, sơn nước, trần bê tông cốt thép, nhà vệ sinh hoàn chỉnh; diện tích sàn: 367,2m²; Mái che; cột kèo sắt, lợp tole, nền lát gạch, diện tích: 38,7m²; Hàng rào: Trụ bê tông cốt thép có ốp gạch hoa, cửa sắt; Cổng sắt cao 02m, rộng 1,8m; Tường xây bằng gạch taplo cao 02m.

    - Giao cho ông Phạm Công U được quản lý, sử dụng thửa đất số 333, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS12050 ngày 01/6/2020 đứng tên ông Phạm Công U.

    - Ông Phạm Công U được sở hữu các tài sản trên đất gồm 02 cây xoài và được sở hữu xe ô tô hiệu KIA màu đen, biển kiểm soát 79A- 34728.

    - Ông Phạm Công U có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Trịnh Thị Hằng S tiền 53.697.903 đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 01 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn bà Trịnh Thị H có đơn kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm giao các con chung Phạm Lan A, Phạm Mạnh H3 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, yêu cầu ông U cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu là 5.000.000đồng/tháng và bị đơn ông Phạm Công U kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại phần chia tài sản chung của vợ chồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt bà Trịnh Thị H trình bày: Việc giao con chung là cháu Phạm Mạnh H3, sinh ngày 21/3/2012 cho ông U trực tiếp nuôi dưỡng theo bản án sơ thẩm đã tuyên là không có căn cứ bởi lẽ: do tính chất công việc, ông U thường xuyên vắng nhà; bản thân ông U có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác; cháu H3 còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ để đảm bảo phát triển thể chất, tâm sinh lý. Do đó, bà kháng cáo sửa một phần bản án sơ thẩm xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Mạnh H3. Đồng thời, yêu cầu ông U phải cấp dưỡng nuôi con chung gồm cháu Phạm Lan A, Phạm Mạnh H3 mỗi cháu là 5.000.000đồng/tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

- Tại phiên tòa ông Phạm Công U và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông U trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng giữa ông Phạm Công U và bà Trịnh Thị H vì các lý do sau:

Nguyên đơn bà Trịnh Thị H đã đưa ra yêu cầu để phân chia tài sản chung vợ chồng trong đó có thửa đất số 333, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Trước khi vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh thụ lý giải quyết, vụ án được hòa giải tại Trung tâm Hòa giải và Đối thoại thuộc Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh bà H đã thừa nhận thửa đất số 333 chính là tài sản được ông và bà Trịnh Thị H góp tiền mua chung với chị ruột (bà D) (ông đã lập vi bằng và cung cấp cho Hội đồng xét xử). Ngoài ra tại đơn đề nghị gởi cho Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh ông cũng đã trình bày rõ nguồn gốc thửa đất số 333 và giá tại thời điểm nhận chuyển nhượng năm 2020 là 600.000.000 đồng, ông và bà H chỉ đóng góp 200.000.000 đồng, số tiền còn lại 400.000.000 đồng do bà Phạm Thị D nhờ (cha ruột của ông và bà D) là ông Phạm Công U1 chuyển vào tài khoản của ông U, để ông U thanh toán cho bên chuyển nhượng (do lúc đó ông là người đại diện đứng ra giao dịch và sau khi hoàn tất thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được sang tên cho ông đứng một mình). Ngày 08/11/2023 ông đã có đơn đề nghị nộp đến Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh trình bày ý kiến về việc chia tài sản (đã cung cấp họ tên, địa chỉ của bà chị ruột ông là bà Phạm Thị D cho Tòa án). Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập bà D đến Tòa để làm rõ. Việc Tòa án sơ thẩm không đưa bà D tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự mà tiến hành phân chia tài sản chung vợ chồng đối với thửa đất số 333 là gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của bà D. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa hủy một phần Bản án sơ thẩm số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh (phần liên quan đến chia tài sản giữa ông U, bà H).

Đối với kháng cáo của bà H: ông U không đồng ý. Vì cả hai vợ chồng đều là quân nhân lương tháng như nhau, cháu H3 là con trai ở độ tuổi phát triển rất cần sự quan tâm, dạy bảo của người cha. Vả lại cha mẹ đều có nghĩa vụ ngang nhau trong việc nuôi dạy con cái nên người; quá trình giải quyết cấp sơ thẩm do sự tác động về mặt tâm lý của bà H nên cháu H3 thay đổi ý chí, không phải là sự tự nguyện của cháu nên ông đồng ý với bản án sơ thẩm giao con chung là cháu Phạm Mạnh H3 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Kháng cáo của nguyên đơn bà Trịnh Thị H không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Đối với kháng cáo của bị đơn ông Phạm Công U: Việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng giữa ông U và bà H trong khi chưa làm rõ nguồn gốc thửa đất số 333, tờ bản đồ số 51 tại tổ dân phố N, phường C, thành phố C có sự đóng góp tiền của bà Phạm Thị D hay không mà đã phân chia tài sản chung vợ chồng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà D. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã không tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ; vi phạm Điều 94, Điều 68, Điều 70 và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy một phần bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa về giải quyết tài sản chung; Chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh để xét xử lại theo thẩm quyền. Về án phí: Nguyên đơn bà Trịnh Thị H phải chịu án phí phúc thẩm; Bị đơn ông Phạm Công U không phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngày 26/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử vụ án. Ngày 01/10/2024, nguyên đơn bà Trịnh Thị H và bị đơn ông Phạm Công U kháng cáo. Như vậy, kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm

Nguyên đơn, bà Trịnh Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trịnh Thị H.

[2] Xét các nội dung kháng cáo:

2.1 Đối với kháng cáo của nguyên đơn, bà Trịnh Thị H:

Bà Trịnh Thị H và ông Phạm Công U có 02 (hai) con chung là cháu Phạm Lan A, sinh ngày 24/11/2007 và cháu Phạm Mạnh H3, sinh ngày 21/3/2012. Quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, cháu Phạm Mạnh H3 có nguyện vọng được ở với cha là ông Phạm Công U, sau khi xét xử sơ thẩm cháu H3 lại thay đổi nguyện vọng của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông U trình bày: Ông có chỗ ở, công việc ổn định, có thời gian trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H3, mặt khác cả ông và bà H đều là quân nhân công tác tại Trung tâm huấn luyện vùng 4 Hải quân nên đều có khả năng đảm bảo cuộc sống, học tập của con chung. Nhận thấy: Việc giao con chưa thành niên cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng đều nhằm đảm bảo sự phát triển tốt nhất về thể chất, tinh thần của con và là trách nhiệm chung của cha, mẹ sau khi ly hôn; mặt khác cháu H3 là con trai nên rất cần sự trực tiếp bảo ban dạy dỗ của người cha. Bên cạnh đó, cả ông Phạm Công U và bà Trịnh Thị H đều có công việc, thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày cho con, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định giao cháu Phạm Mạnh H3 cho ông Phạm Công U trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng và giao cháu Phạm Lan A cho bà Trịnh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng; không bên nào có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn bà Trịnh Thị H là không được chấp nhận.

2.2 Đối với kháng cáo của bị đơn ông Phạm Công U:

Tại đơn khởi kiện ngày 09/6/2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 03/7/2023 của nguyên đơn bà Trịnh Thị H yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong đó có quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 333 tờ bản đồ số 51 tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU195493 số vào sổ cấp GCN: CS12050 ngày 01/6/2020 và đã được Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh thụ lý vụ án số 163/2023/TB-TLVA ngày 11/10/2023. Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Công U trình bày trong số tiền mua thửa đất nêu trên có một phần tiền của bà D (chị gái ruột của ông) là 400.000.000 đồng và ông đã cung cấp họ tên, địa chỉ của bà Phạm Thị D tại bản giải trình về tài sản chung vốn mua đất ngày 15/11/2023 (Bút lục số 28).

Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông U không cung cấp họ tên địa chỉ của bà Phạm Thị D theo Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ (BL30a) và việc bà H không thừa nhận có việc đóng góp của bà D trong khối tài sản chung của vợ chồng để từ đó không tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, bổ sung người tham gia tố tụng là không đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, bản án sơ thẩm đã xác định tổng giá trị tài sản chung vợ chồng (bao gồm cả thửa đất số 333 nêu trên) và tiến hành phân chia trong khi chưa làm rõ có sự đóng góp của bà Phạm Thị D trong khối tài sản chung này hay không để có cơ sở xác định tài sản chung của bà H, ông U thuộc sở hữu chung hợp nhất hay sở hữu chung theo phần là không phù hợp với quy định tại Điều 28, Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình nên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự theo quy định tại Điều 68, Điều 70 và Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Công U, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

[3] Về án phí:

Kháng cáo của bà Trịnh Thị H không được chấp nhận nên bà H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Kháng cáo của ông Phạm Công U được chấp nhận nên ông U không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bà Trịnh Thị H.

    Căn cứ Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên xử:

    Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.

    - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị H được ly hôn ông Phạm Công U.

    - Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trịnh Thị H và ông Phạm Công U có 02 (hai) con chung là cháu Phạm Lan A, sinh ngày 24/11/2007 và cháu Phạm Mạnh H3, sinh ngày 21/3/2012.

    Giao cho bà Trịnh Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Lan A; Giao cho ông Phạm Công U trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Mạnh H3; Bà H, ông U không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở; đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

  2. Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, ông Phạm Công U.

    Hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết lại đối với yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng theo thủ tục sơ thẩm.

  3. Về án phí phúc thẩm: Bà Trịnh Thị H phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004971 ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Bà H đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm. H4 lại cho ông Phạm Công U 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004937 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Khánh Hòa;

- Cục THADS TP. Cam Ranh;

- UBND TP. Cam Ranh;

- Lưu: hồ sơ vụ án, án văn.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Hạng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn và tranh chấp tài sản chung sau ly hôn

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp tài sản chung sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị Hằng - Phạm Công Uân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger