|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HC-PT Ngày 13/02/2025 Về việc: Khiếu kiện Quyết định trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Ngọc Hòa
Các Thẩm phán:Bà Tôn Thị Xuân Thủy
Ông Hoàng Liên Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Tuyết Nhung – Cán bộ Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà
Đào Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 16/2024/TLPT-HC ngày 08 tháng 11 năm 2024 về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2024/HC-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 78/2024/QĐPT-HC ngày 24 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐPT-HC ngày 15/01/2025, giữa các đương sự:
Người khởi kiện:
Ông Vũ Văn L, sinh năm 1952 (có mặt).
Bà Đào Thị L1, sinh năm 1960 (có mặt).
Đều đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn T, xã C, huyện P, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện:
Bà Hoàng Thanh T, sinh năm 2002; địa chỉ: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (có mặt).
Bà Nông Thị Kim O, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn T, bản G, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện:
Bà Nguyễn Thị Phương A - Luật sư Công ty L2 thuộc đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
Người bị kiện:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, Hà Nội.
Trụ sở: Thôn T, xã C, huyện P, Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Chí N - Phó Chủ tịch
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Phạm
Ngọc H – Cán bộ địa chính, Ủy ban nhân dân xã C (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, Hà Nội.
Trụ sở: Thôn T, xã C, huyện P, Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Chí N - Phó Chủ tịch
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, người khởi kiện ông Vũ Văn L và bà Đào Thị L1 cùng người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Năm 1981, vợ chồng ông bà được chính quyền thôn, xã cấp một mảnh đất tại thôn T, xã C, P, Hà Nội để sinh sống (nay là thửa đất số 82, tờ bản đồ số 2 tại thôn T, xã C, huyện P, gọi tắt là thửa 82). Khi chuyển đến sinh sống, ông bà đã xây dựng nhà cửa, công trình vệ sinh, chuồng lán chăn nuôi, sân vườn, trồng cây trên đất. Ngày 20/01/1991, ông bà được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 82 diện tích 520m² đất mang tên ông Vũ Văn L.
Ngoài ra, quá trình sử dụng thửa 82, cũng vào năm 1981, ông bà còn cơi nới thêm một phần diện tích đất khác và sử dụng liên tục từ năm 1981, không tranh chấp với ai, cụ thể là:
- Diện tích đất 153m² nằm tiếp giáp phía bắc thửa đất số 82 đã được nộp tiền sử dụng đất 91.800.000 đồng và tiền lệ phí trước bạ 459.000 đồng cho Ủy ban nhân dân xã C năm 2016 để được công nhận quyền quyền sử dụng đất đối với 153m² này. (Phần diện tích 153m² đất này không nằm trong phần đất mà Chủ tịch UBND xã C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính).
- Một phần diện tích đất khác bao gồm ngõ đi và khu đất trồng cây giáp với đường làng (phần diện tích đất này nằm phía ngoài và giáp với phần diện tích đất 153m² đã đóng tiền nêu trên). Phần diện tích ngõ đi và khu đất trồng cây này, ông
bà chưa đóng tiền xử lý đất để được công nhận quyền sử dụng đất. Phần diện tích đất này là 378m² mà Chủ tịch UBND xã C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 449/QĐ-XPHC ngày 14/8/2023 và các Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 476/QĐ-CCXP ngày 31/8/2023 và số 507/QĐ-CCXP ngày 11/9/2023 đồng thời tiến hành cưỡng chế đối với ông bà, mặc dù ông bà đã quản lý, sử dụng đối với diện tích 378m² đất này liên tục từ năm 1981, không tranh chấp với ai.
Tuy nhiên, ông bà cho rằng các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên đều không có căn cứ, trái quy định pháp luật, đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông bà, bởi lẽ:
1. Toàn bộ diện tích đất 378m² bị Chủ tịch UBND xã C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên thì ông bà đã sử dụng liên tục, ngay tình, không tranh chấp với ai từ 1981 đến nay được chính quyền địa phương biết rõ. Đối chiếu với các quy định của Luật đất đai qua các thời kỳ thì ông bà đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất đối với 378m² đất này.
2. Về trình tự, thủ tục ban hành các Quyết định hành chính nêu trên là không đúng quy định pháp luật, do:
- Việc lập Biên bản vi phạm hành chính không có mặt ông bà và ông bà cũng không được UBND xã giao cho Biên bản vi phạm hành chính.
- Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 476/QĐ-CCXP ngày 31/8/2023 và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 507/QĐ-CCXP ngày 11/9/2023, ông bà được UBND xã C giao cho ngày 11/9/2023 (ngày bị cưỡng chế) là vi phạm về thời hạn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông bà.
Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết:
- Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 449/QĐ-XPHC ngày 14/8/2023 của Chủ tịch UBND xã C.
- Hủy Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 476/QĐ-CCXP ngày 31/8/2023 của Chủ tịch UBND xã C.
- Hủy Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 507/QĐ-CCXP ngày 11/9/2023 của Chủ tịch UBND xã C.
Người bị kiện trình bày:
Ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1 là chủ sử dụng thửa đất số 82 đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/01/1991. Quá trình sử dụng thửa đất số 82, ông bà đã lấn chiếm 153m² đất công nằm tiếp giáp phía Bắc thửa đất số 82. Năm 2014, thực hiện hướng dẫn số 254/HD-UBND ngày 25/3/2014 của UBND huyện P về việc công nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp vi phạm sử dụng đất, phù hợp quy hoạch đất ở, UBND xã C đã tổ
chức rà soát, lập hồ sơ và trình UBND huyện P công nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân đủ điều kiện, trong đó có 153m² đất ông bà lấn chiếm nêu trên. Quá trình lập hồ sơ xét cộng nhận quyền sử dụng đất, năm 2014 ông bà đã có đơn đề nghị công nhận quyền sử dụng đất đối với 153m² đất lấn chiếm này (trong đơn ông bà tự xác nhận thời điểm lấn chiếm 153m² đất này là năm 2004, đồng thời cam kết không tiếp tục lấn chiếm đất công). Ngày 15/4/2015, UBND huyện P đã có Quyết định số 1205/QĐ-UBND ngày 15/04/2015 công nhận Quyền sử dụng đất cho các hộ dân, trong đó ông bà được công nhận 153m² đất vi phạm lấn chiếm trước đó. Năm 2016 ông bà đã nộp 91.800.000 đồng tiền sử dụng đất và 459.000 đồng lệ phí trước bạ đối với diện tích đất 153m² theo quy định pháp luật. Phần diện tích đất 153m² trên trước đó ông bà sử dụng làm ngõ đi vào thửa đất số 82, sau đặt máy sát gạo.
Như vậy diện tích đất hợp pháp của ông bà gồm thửa đất số 82 diện tích 520m² đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 153m² đất (nằm tiếp giáp phía bắc thửa đất số 82) đã được UBND huyện P công nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 1205/QĐ-UBND ngày 15/04/2015. Lúc này, tiếp giáp phía bắc phần đất 153m² vẫn là ao sâu rộng thuộc đất công do UBND xã C quản lý.
Năm 2016 nhà nước nạo vét lòng sông Nhuệ nên chính quyền thôn T, xã C đã tận dụng bùn, cát từ nạo vét sông lấp vào ao của tập thể để có chủ trương làm sân bóng đá của thôn, do đó ao của tập thể đã được san lấp hình thành nền trũng, trong đó khu vực ao tiếp giáp với đất nhà ông bà cũng hình thành nền trũng.
Sau đó kể từ khoảng năm 2020, 2021 ông bà có hành vi đổ thêm đất, cát, rác bẩn, mở rộng ngõ đi, lợp lán tạm và trồng một số cây ăn quả, cây lấy gỗ lấn chiếm đất ao của tập thể (khu vực tiếp giáp phía bắc của khu đất 153m² được công nhận xử lý lấn chiếm trước đó). Ngày 8/8/2023 UBND xã C đã lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với vợ ông bà tại vị trí đất vi phạm lấn chiếm đất công diện tích là 378m² thuộc đất ao do UBND xã Quản lý; trên đất lấn chiếm, ông bà đã làm 16m² bán mái tạm, hàng rào tạm bằng tre và trồng một số cây gồm cây chuối, cây sanh, cây sưa, cây đu đủ, cây xoan, cây Q. Việc UBND xã lập biên bản vi phạm hành chính ngày 8/8/2023 đối với ông bà là đúng quy định pháp luật. Quá trình lập biên bản vi phạm hành chính có mặt ông bà và đã được thông qua biên bản vi phạm hành chính nhưng ông bà không ký biên bản. Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính, UBND xã đã tiến hành xác minh các tình tiết liên quan đến vi phạm của ông bà, qua đó xác định thời điểm vi phạm lấn chiếm đất là từ năm 2020, 2021. Ngày 09/8/2023 UBND xã đã giao cho ông bà biên bản vi phạm hành chính kèm theo biên bản kiểm đếm công trình, cây cối trên đất vi phạm; mặc dù đã nhận các biên bản này nhưng ông bà không ký biên bản giao nhận, vì vậy cùng ngày UBND xã đã tiến hành niêm yết công khai biên bản vi
phạm hành chính tại nhà văn hóa thôn T và thông báo trên hệ thống loa truyền thanh thôn T, xã C theo quy định pháp luật.
Căn cứ biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai lập ngày 8/8/2023 và biên bản xác minh các tình tiết liên quan đến vi phạm của ông L, bà L1; ngày 14/8/2023 Chủ tịch UBND xã C đã ban hành Quyết định số 449/QĐ- XPHC về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông L, bà L1 với hình thức xử phạt Cảnh cáo; biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại trình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, tháo dỡ công trình vi phạm di dời cây cối ra khỏi đất vi phạm và không được tiếp tục tái chiếm. Cùng ngày 14/8/2023 UBND xã C giao Quyết định xử phạt vi phạm hành chính này cho ông L, bà L1 và đã ký nhận tại biên bản giao.
Do ông L, bà L1 không thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 449 trên về phần nội dung khắc phục hậu quả nên ngày 31/8/2023 Chủ tịch UBND xã C đã ra Quyết định số 476/QĐ-CCXP về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Cùng ngày UBND xã C giao Quyết định số 476 này cho ông L, bà L1 và đã ký nhận biên bản giao.
Tiếp đó ngày 11/9/2023 Chủ tịch UBND xã C ra Quyết định số 507/QĐ- CCXP về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Quyết định số 507 này là bổ sung cho Quyết định số 476 nêu trên về vị trí, địa điểm cưỡng chế, các công trình, cây trồng bị cưỡng chế trên đất vi phạm, thời gian cưỡng chế vào hồi 8 giờ 30 phút ngày 11/9/2023. UBND xã đã giao và thông báo cho vợ chồng ông L, bà L1 Quyết định số 507 này. Ngay sau đó UBND xã C đã tổ chức cưỡng chế đối với đất vi phạm của gia đình ông L, bà L1. Quá trình cưỡng chế được thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Từ các căn cứ nêu trên, Chủ tịch UBND xã C khẳng định việc Chủ tịch UBND xã C ban hành các Quyết định hành chính đối với ông L, bà L1 gồm: Quyết định số 449/QĐ-XPHC ngày 14/08/2023 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Quyết định số 476/QĐ-CCXP ngày 31/08/2023 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả; Quyết định số 507/QĐ-CCXP ngày 11/09/2023 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đều đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và nội dung.
Vì vậy Chủ tịch UBND xã C không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L, bà L1 về yêu cầu hủy 03 Quyết định hành chính trên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện có quan điểm trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện với các căn cứ:
Diện tích đất 378m² đã được ông L, bà L1 sử dụng liên tục, ngay tình, không tranh chấp với ai từ 1981 đến nay. Diện tích 378m² đất này cùng với thửa
đất số 82 và 153m² đất (đã được công nhận quyền sử dụng đất) là nằm trong cùng một khuôn viên, không có ranh giới phân chia; trong khi đó phía người bị kiện không chứng minh được 378m² đất này thuộc quản lý của UBND xã C. Đối chiếu với các quy định của Luật đất đai qua các thời kỳ thì ông L, bà L1 đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất đối với 378m² đất trên.
Tại bản án hành hành chính sơ thẩm số 02/2024/HC-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên đã quyết định như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 31, Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206, Điều 348 và Điều 358 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ các Điều 28, 29, 38, 52, 86, 87, 88 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
Căn cứ Nghị định 91/2019/NĐ - CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
Căn cứ Nghị định 118/2021/NĐ - CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn L và bà Đào Thị L1 về yêu cầu: Hủy Quyết định số 449/QĐ-XPHC ngày 14/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1; hủy Quyết định số 476/QĐ- CCXP ngày 31/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, Thành phố Hà Nội cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1; hủy Quyết định số 507/QĐ-CCXP ngày 11/9/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, Thành phố Hà Nội cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, ngày 18/7/2024 ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1 có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L, bà L1.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông L, bà L1 và đại diện theo ủy quyền của ông bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hủy Quyết định số 449/QĐ-XPHC ngày 14/8/2023 về việc xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định số 476/QĐ-CCXP ngày 31/8/2023 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 507/QĐ-CCXP ngày 11/9/2023 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, Thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của ông L, bà L1.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện đề nghị HĐXX giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình tham gia tố tụng của các đương sự, quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính. Tòa án giải quyết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật.
Về tư cách tham gia tố tụng trong vụ án: Cần bổ sung UBND xã C tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q2, đề nghị HĐXX: Không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1. Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 02/2024/HCST ngày 09/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên.
Về án phí: Ông L và bà L1 được miễn án phí hành chính sơ thẩm do thuộc đối tượng người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án trên cơ sở thẩm tra xem xét đầy đủ, toàn diện lời khai của các đương sự, ý kiến của Luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện và của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét nội dung kháng cáo của ông L, bà L1:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1 khởi kiện yêu cầu Hủy Quyết định số 449/QĐ-XPHC ngày 14/8/2023 về việc xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định số 476/QĐ-CCXP ngày 31/8/2023 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 507/QĐ-CCXP ngày 11/9/2023 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, Thành phố Hà Nội. Đây là các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai nên là đối tượng khởi kiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 và Điều 30 Luật Tố tụng hành chính. Người bị kiện là Chủ tịch UBND xã C nên Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo Điều 31 Luật Tố tụng hành chính.
Ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1 kháng cáo bản án số 02/2024/HC-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên là đảm bảo về thời hạn kháng cáo nên Toà án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
- Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 24/7/2023, ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1 có đơn khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định hành chính nêu trên gửi Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên là đảm bảo về thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
- Về tư cách tham gia tố tụng: Ngày 08/8/2023, Ủy ban nhân dân xã C đã tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai đối với ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1 với hành vi Chiếm đất công do Ủy ban nhân dân xã C quản lý, nên cần phải đưa Ủy ban nhân dân xã C vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa người bị kiện là Chủ tịch UBND xã C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND xã C có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ điểm Điều 157 luật Tố tụng hành chính, Tòa án xét xử vắng mặt.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các quyết định bị khiếu kiện:
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 449/QĐ- XPHC ngày 14/8/2023 của Chủ tịch UBND xã C; Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 476/QĐ-CCXP ngày 31/8/2023 của Chủ tịch UBND xã C; Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 507/QĐ-CCXP ngày 11/9/2023 của Chủ tịch UBND xã C được ban hành đúng trình tự, thủ tục thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, 38, 58, 59, 86, 87 Luật xử phạt vi phạm hành chính.
[2.2] Về nguồn gốc diện tích 378m² đất:
Theo bản đồ địa chính, sổ mục kê năm 1982, năm 1991 và trình bày của người bị kiện đều thể hiện vị trí diện tích đất nằm trong thửa đất số 78 diện tích 3030m² là đất ao do UBND xã C quản lý.
Theo biên bản xác minh nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất của UBND xã C lập ngày 08/8/2023; kết quả làm việc, xác minh của Tòa án đối với UBND xã C và Trưởng thôn Thượng, xã C qua các thời kỳ; lời khai của bà Vũ Thị Q1, bà Vũ Thị N1, ông Vũ Hồng K, ông Vũ Văn T1, bà Lương Thị H1 là những người dân sinh sống tại thôn T, xã C đều cho thấy thời điểm vợ chồng ông L, bà L1 sử dụng, lấn chiếm đối với 378m² đất là từ năm 2020, 2021. Mặt khác năm 2014 quá trình UBND xã lập hồ sơ xét công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông L, bà L1 đối với 153m² đất lấn chiếm trước đó (Vị trí 153m² đất nằm tiếp giáp phía bắc thửa đất số 82) trong đơn đề nghị, ông L tự xác nhận thời điểm lấn chiếm 153m² đất là năm 2004, đồng thời cam kết không tiếp tục lấn chiếm đất công).
Từ những căn cứ nêu trên cho thấy, kể từ năm 2020, 2021 vợ chồng ông L, bà L1 đã có hành vi lấn chiếm, sử dụng 378m² đất công thuộc quyền quản lý của UBND xã C; do dó việc ông L, bà L1 cho rằng sử dụng liên tục đối với diện tích đất 378m² này từ năm 1981 là không có cơ sở.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định vợ chồng ông L, bà L1 làm lán lợp tạm, trồng cây trên diện tích 378m² đất công do UBND xã C quản lý mà không được UBND xã Chuyên Mỹ cho phép là hành vi lấn, chiếm đất quy định tại Khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
[2.3] Xét Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 449/QĐ-XPHC và Quyết định cưỡng chế số 476/QĐ-CCXP và Quyết định cưỡng chế số 507/QĐ- CCXP:
Ngày 08/8/2023, UBND xã C đã tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai đối với ông L, bà L1 với hành vi cụ thể: Lấn chiếm 378m² đất công do UBND xã quản lý. Vợ chồng ông L, bà L1 đã làm 16m² lán lợp tạm và trồng cây cối trên diện tích đất lấn, chiếm (biên bản làm việc về việc lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông L và bà L1 thể hiện trên đất vi phạm có: 16m² lán tạm tại gốc tây nam, 55 cây chuối cao trên 1m, 20 cây chuối cao dưới 1m, 02 cây chuối mới trồng, 02 cây sanh, 10 cây sưa, 02 cây đu đủ đường kính 05cm, 01 cây đu đủ đường kính 08cm, 03 cây đu đủ đường kính 02cm, 06 cây xoan, 01 cây quất, hàng rào tre tạm mới làm băng khoảng 01 cây nhỏ). Biên bản vi phạm hành chính được lập có sự tham gia của ông L, bà L1, nhưng ông bà không ký biên bản. Quá trình lập biên bản vi phạm hành chính, UBND xã C đã xác minh thời điểm vi phạm của vợ chồng ông L là kể từ năm 2020, 2021. Do đó, UBND xã C lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với ông L, bà L1 là có căn cứ, đúng đối tượng vi phạm theo quy định tại các Điều 58, 59 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Ngày 09/8/2023 UBND xã đã giao cho ông L, bà L1 Biên bản vi phạm hành chính và tiến hành niêm yết công khai theo quy định nên việc ông L, bà L1 cho rằng không có mặt tại thời điểm UBND xã C lập biên bản vi phạm hành chính ngày 08/8/2023 và không được giao nhận Biên bản vi phạm hành chính là không có căn cứ.
Nhận thấy, Biên bản vi phạm hành chính lập ngày 08/8/2023, xác định thời điểm vi phạm là năm 2020, 2021. Như vậy, vụ việc đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính, lẽ ra trong trường hợp này UBND xã C phải ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, như phân tích ở trên nguồn gốc diện tích 378m² đất là đất ao công, do vậy UBND xã xác định ông L, bà L1 có hành vi vi phạm, lấn, chiếm đất là đúng theo quy định tại Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của
Chính Phủ. Mặc dù, UBND xã ban hành Quyết định hành chính không đúng về hình thức nhưng về bản chất ông L, bà L1 có hành vi lấn chiếm đất công. Vì vậy, ngày 31/8/2023, Chủ tịch UBND xã C ban hành Quyết định số 476/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông L, bà L1; ngày 11/9/2023, Chủ tịch UBND xã C ban hành Quyết định số 507/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả để bổ sung cho Quyết định số 476/QĐ-CCXP nêu trên về vị trí, địa điểm cưỡng chế, các công trình, cây trồng bị cưỡng chế trên đất vi phạm, thời gian cưỡng chế cụ thể là, phù hợp với quy định tại điểm d khoản 2 Điều 86 và điểm a khoản 1 Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013; các Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả này đã được UBND xã C giao cho ông L, bà L1 theo quy định pháp luật.
Vì vậy yêu cầu khởi kiện của ông L, bà L1 về hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 449/QĐ-XPHC, Quyết định số 476/QĐ-CCXP ngày 31/8/2023 và Quyết định số 507/QĐ-CCXP ngày 11/9/2023 là không có căn cứ.
Qua vụ việc này: Kiến nghị với UBND xã C về việc ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải thực hiện đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, bà L1 về hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 449/QĐ-XPHC; hủy Quyết định số 476/QĐ-CCXP ngày 31/8/2023 và hủy Quyết định số 507/QĐ-CCXP ngày 11/9/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đúng.
Từ những phân tích, đánh giá trên nhận thấy: Yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của ông L, bà L1 là không có cơ sở chấp nhận.
Luận cứ của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L, bà L1 không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Kết luận của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3] Về án phí: Ông L, bà L1 không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Nghị quyết 104/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội;
- Khoản 1, khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 31, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng Hành chính năm 2015;
- Điều 58 của Luật Đất đai năm 1993; Khoản 13 Điều 4 của Luật Đất đai năm 2003; khoản 4, 9, 16 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013;
- Các Điều 06, 28, 57, 58, 59, 65, 66, 86 và 87 của Luật Xử lý vi phạm hành
- chính năm 2012;
- Điều 36 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2016;
- Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ);
- Nghị định số 102/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
- Nghị định số 33/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
- Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Bác kháng cáo của ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1.
- Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2024/HC-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên và quyết định cụ thể như sau:
- 2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn L và bà Đào Thị L1 về yêu cầu: Hủy Quyết định số 449/QĐ-XPHC ngày 14/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1; hủy Quyết định số 476/QĐ-CCXP ngày 31/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, Thành phố Hà Nội cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1; hủy Quyết định số 507/QĐ-CCXP ngày 11/9/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, Thành phố Hà Nội cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Vũ Văn L, bà Đào Thị L1.
- 3. Về án phí: Ông Vũ Văn L và bà Đào Thị L1 được miễn nộp án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm. Trả lại ông Vũ Văn L và bà Đào Thị L1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0015325 ngày 09/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên.
Án xử công khai, phúc thẩm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HÔI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà TRẦN NGỌC HÒA |
Bản án số 04/2025/HC-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định trong lĩnh vực quản lý đất đai.
- Số bản án: 04/2025/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định trong lĩnh vực quản lý đất đai.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bác đơn
