trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/DS -ST

Ngày 30/9/2025

“V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thào

Ông Dương Xuân Tựu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Giang - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Luận và bà Mạc Thị Quỳnh D - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 06/2024/TLST-DS ngày 01/11/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐST-DS ngày 25/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trịnh Mùi T, sinh năm 1947.

Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. (Nay là thôn P, xã C, tỉnh Thái Nguyên). Vắng mặt

Người được nguyên đơn bà Trịnh Mùi T ủy quyền đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Mùi S, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. (Nay là thôn P, xã C, tỉnh Thái Nguyên), theo văn bản ủy quyền ngày 10/11/2023. Có mặt

* Bị đơn: Ông Triệu Tòn L, sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. (Nay là thôn P, xã C, tỉnh Thái Nguyên). Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Triệu Tòn L là bà Nguyễn Phương B - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T2, tỉnh Thái

Nguyên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phùng Chàn C, sinh năm 1982 - Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. (Nay là thôn P, xã C, tỉnh Thái Nguyên). Có mặt.

* Người làm chứng.

- Ông Đặng Tòn P, sinh năm 1975

Trú tại: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Nay là thôn P, xã C, tỉnh Thái Nguyên). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/7/2024, nguyên đơn bà Trịnh Mùi T trình bày:

Bà và ông Đặng Dùn S1 khai phá được một thửa đất rừng tại thôn N (Nay là thôn P), xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn (Sau khi sáp nhập là thôn P, xã C, tỉnh Thái Nguyên), ngày 24/4/2009 được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG861896 cho hộ ông Đặng Dùn S1 (Ông SLân chết năm 2015) và bà Trịnh Mùi T có số thửa là 437, tờ bản đồ số 2 diện tích 21.042m2, loại đất rừng sản xuất, địa chỉ thửa đất tại thôn N (nay là thôn P), xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Gia đình bà quản lý, sử dụng liên tục, sau đó bà cho con gái là Đặng Mùi S quản lý rừng và trồng một số cây mỡ. Ngày 22/11/2023 diện tích đất này đã được thừa kế cho bà Trịnh Mùi T. Ngày mùng 02 tháng 11 năm 2023 ông Triệu Tòn L trú cùng thôn dùng cưa máy cắt 14 cột hàng rào, 04 cây mỡ, 01 cây gỗ kháo, sau đó ông L đã di chuyển hàng rào bằng dây thép gai của Đặng Mùi S rào lấn chiếm đất của bà với diện tích khoảng 1.971m2, hiện nay ông Triệu Tòn L đã chặt cây gỗ tự nhiên và phát quang diện tích tranh chấp thì xảy ra tranh chấp. Bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên) giải quyết buộc ông Triệu Tòn L tháo rỡ hàng rào để trả lại diện tích 1.971m2 đất tranh chấp cho bà Trịnh Mùi T.

Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa người được nguyên đơn ủy quyền đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Mùi S trình bày: Bà được bà Trịnh Mùi T ủy quyền để tham gia giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Triệu Tòn L. Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là do bà Trịnh Mùi T, ông Đặng Dùn S1 khai phá và quản lý, sử dụng diện tích đất cho đến nay, đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2009. Năm 2020 bà T cho bà và chồng bà là Phùng Chàn C trồng cây mỡ trên một phần diện tích của thửa đất, cuối năm 2023 ông Triệu Tòn L dùng cưa cắt cột hàng rào và di chuyển hàng rào mà bà đã rào để rào lại lấn chiếm đất của bà T nên dẫn đến tranh chấp, bà S yêu cầu ông Triệu Tòn L trả lại diện tích đất tranh chấp cho bà Trịnh Mùi T, không yêu cầu tháo rỡ hàng rào. Đối với số cây mỡ mà bà và ông C đã trồng trên diện tích đất tranh chấp bà không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phùng Chàn C trình bày: Năm 2020 bà T cho ông và vợ ông là Đặng Mùi S trồng cây mỡ trên một phần diện tích của thửa đất, cuối năm 2023 ông Triệu Tòn L dùng cưa cắt cột hàng rào và di chuyển hàng rào mà vợ chồng ông đã rào để rào lại lấn chiếm đất của bà T nên dẫn đến tranh chấp, trên diện tích đất tranh chấp có 35 cây mỡ do vợ chồng ông trồng nhưng ông không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với hàng rào của ông mà ông Triệu Tòn L đã mang đi rào ngăn đất ông không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Triệu Tòn L trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là trước năm 1997 là đất công cộng của thôn không có ai canh tác chỉ để làm bãi chăn thả T1, B1. Năm 1997 ông canh tác trồng lúa được ba năm thì không làm nữa mà chuyển qua khoanh vùng để chăn thả Trâu, B1, ông quản lý và sử dụng diện tích đất tranh chấp từ năm 1997 cho đến nay. Năm 2021 con gái bà Trịnh Mùi T là Đặng Mùi S và chồng là Phùng Chàn C tiến hành rào bằng dây thép gai thì ông có biết và đồng ý cho rào, sau khi rào vợ chồng S lén giấu ông lấy cây mỡ về trồng trên diện tích đất đang tranh chấp, khi cây mỡ cao được khoảng 01 mét (trồng được 01 năm) vợ chồng S, C phát cỏ cây mỡ thì ông mới biết, ông đã đến tận nhà có ý kiến với bà T và vợ chồng S nhưng bà T bảo diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không trả lại cho ông nên dẫn đến tranh chấp, trong quá trình sử dụng đất ông chưa xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần nào.

Lời khai của người làm chứng ông Đặng Tòn P: Ông là người sinh ra và lớn lên tại thôn P, ông đã làm trưởng thôn Phya Mạ từ năm 2000, sau đó chuyển sang làm công an viên, làm công tác đảng của thôn và từ năm 2011 đến nay ông làm trưởng thôn Phya Mạ. Về nguồn gốc đất tranh chấp giữa bà Trịnh Mùi T và ông Triệu Tòn L là của bà Trịnh Mùi T và ông Đặng Dùn S1 khai phá sử dụng và đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông chưa thấy ông Triệu Tòn L sử dụng diện tích đất tranh chấp lần nào.

Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Thái Nguyên và Chi nhánh Văn phòng Đ – Thái Nguyên đều khẳng định việc Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đặng Dùn S1 và bà Trịnh Mùi T đối với thửa đất số 437 tờ bản đồ số 2, diện tích 21.042m² là hợp pháp.

Ngày 20/8/2025 Tòa án đã phối hợp với Công ty TNHH K thiết kế và đo vẽ bản đồ Bắc Kạn, Ủy ban nhân dân xã C tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất tranh chấp cho kết quả. Diện tích đất tranh chấp là 730,6m² thuộc thửa đất số 437 tờ bản đồ số 02 (Có sơ đồ kèm theo).

Trên diện tích đất tranh chấp có 35 cây mỡ do ông Phùng Chàn C và bà Đặng Mùi S trồng năm 2020, cây to nhất có vòng dây gốc là 45cm, cây nhỏ nhất

có vòng dây gốc là 10cm. Cạnh phía bắc diện tích đất tranh chấp có 01 hào đất dài 45m, rộng 0,4m, sâu 0,2m do ông Triệu Tòn L đào tháng 02 năm 2023.

Tại phiên tòa:

  • Người được nguyên đơn ủy quyền bà Đặng Mùi S yêu cầu ông Triệu Tòn L trả lại diện tích đất tranh chấp là 730,6m² cho bà Trịnh Mùi T.
  • Bị đơn ông Triệu Tòn L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Mùi S và ông Phùng Chàn C không yêu cầu giải quyết đối với 35 cây mỡ mà bà S, ông C trồng trên diện tích đất tranh chấp, không yêu cầu giải quyết đối với hàng rào mà ông Triệu Tòn L đã lấy đi rào ngăn diện tích đất tranh chấp.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có gửi cho Hội đồng xét xử bản luận cứ: Tại bản luận cứ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày.

Ông Triệu Tòn L đã khai phá, canh tác tại phần đất đang tranh chấp từ năm 1997 và tiếp tục quản lý, sử dụng cho đến nay. Vào thời gian họp triển khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông L không tham gia họp, nên mới không đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với phần đất đang tranh chấp. Năm 2021, con gái của bà T là bà Đặng Mùi S và con rể của bà T là ông Phùng Chàn C dùng dây thép gai để rào phần đất đang tranh chấp, ông L đã ngăn cản, không cho phép. Nhưng bà S và ông C đã xin ông L cho rào qua phần đất của ông L đang quản lý sử dụng, do phần giáp ranh giữa phần đất của bà T và ông L cây cối rậm rạp khó rào. Ông L đồng ý cho bà S và ông C rào tạm qua phần đất do ông quản lý để tránh trâu bò vào phá hoại. Tuy nhiên sau đó bà S và ông C đã mang cây mỡ đến trồng vào phần đất do ông L quản lý, sử dụng dẫn đến phát sinh tranh chấp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 861896 cấp cho hộ ông Đặng Dùn S1 và bà Trịnh Mùi T đã vượt quá phạm vi sử dụng đất của hộ gia đình bà T. Tại Biên bản xem xét thẩm định ngày 20/8/2025 đã xác định, phía nam phần đất đang tranh chấp giáp phần đất ông Trịnh Tòn L1 đang quản lý sử dụng, phía đông phần đất đang tranh chấp giáp với phần đất do ông Triệu Tòn P1 đang quản lý sử dụng. Căn cứ quy định của Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đất đai năm 2024, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ý kiến của bị đơn, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát khu vực 9 - Thái Nguyên phát biểu ý kiến: Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Tại phiên tòa người được nguyên đơn ủy quyền, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ đúng

quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 5 Điều 105, khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003; các điều của Luật Đất đai năm 2013, 2024; các Điều 26, 35, 39, Điều 147, Điều 157 của BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Mùi T về việc buộc ông Triệu Tòn L trả lại diện tích đất tranh chấp là 730,6m², nằm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 861896, cấp ngày 24/4/2009, là thửa đất số 437, tờ bản đồ số 02, loại đất RSX, diện tích 21.042m2, cấp cho hộ ông Đặng Dùn S1 và bà Trịnh Mùi T. Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận giữa nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền: Đây là vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Trịnh Mùi T với bị đơn ông Triệu Tòn L. Bị đơn và đối tượng tranh chấp đều có địa chỉ tại xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn (nay là xã C, tỉnh Thái Nguyên) và vụ việc đã được Ủy ban nhân dân xã C, huyện P hòa giải. Căn cứ theo quy định tại các điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên).

[2]. Về nội dung tranh chấp:

Bà Trịnh Mùi T và ông Triệu Tòn L tranh chấp diện tích 730,6m² đất tại thửa đất số 437 tờ bản đồ số 02, loại đất rừng sản xuất có địa chỉ tại thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn (Nay là thôn P, xã C, tỉnh Thái Nguyên), đã được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG861896 ngày 24/4/2009 cho hộ ông Đặng Dùn S1 và bà Trịnh Mùi T có số thửa là 437, tờ bản đồ số 2 diện tích 21.042m², loại đất rừng sản xuất, năm 2016 ông Đặng Dùn S1 chết, ngày 22/11/ 2023 bà Trịnh Mùi T đã nhận thừa kế thửa đất này. Nay bà Trịnh Mùi T đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Triệu Tòn L tháo rỡ hàng rào để trả lại cho bà diện tích đất 730,6m².

[3]. Xác định diện tích, loại đất, vị trí đất tranh chấp: Ngày 20/8/2025 Tòa án đã phối hợp với Công ty TNHH K thiết kế và đo vẽ bản đồ Bắc Kạn, Ủy ban nhân dân xã C tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất tranh chấp cho kết quả. Diện tích đất tranh chấp là 730,6m² đất rừng sản xuất được giới hạn bởi các mốc từ 1 đến 11, diện tích đất tranh chấp nằm hoàn toàn trên thửa đất số 437 tờ bản đồ số 02 đã được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG861896 ngày 24/4/2009 cho hộ ông Đặng Dùn S1 và bà Trịnh Mùi T. Vị trí, diện tích đất tranh chấp thuộc thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn (Nay là thôn P, xã C, tỉnh Thái Nguyên)

[4]. Xác định tài sản trên diện tích đất tranh chấp:

Trên diện tích đất tranh chấp có 35 cây mỡ do ông Phùng Chàn C và bà Đặng Mùi S trồng năm 2020, cây to nhất có vòng dây gốc là 45cm, cây nhỏ nhất có vòng dây gốc là 10cm. Cạnh phía bắc diện tích đất tranh chấp có 01 hào đất dài 45m, rộng 0,4m, sâu 0,2m do ông Triệu Tòn L đào tháng 02 năm 2023.

[5]. Nhận định của Hội đồng xét xử: Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 25/8/2025 và tại phiên tòa hôm nay, người được nguyên đơn ủy quyền xác định:

Tổng diện tích 730,6m² đất tranh chấp đo đạc ngày 20/8/2025 nằm hoàn toàn trong thửa đất số 437 tờ bản đồ số 02 đã được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG861896 ngày 24/4/2009 cho hộ ông Đặng Dùn S1 và bà Trịnh Mùi T. Trên diện tích đất tranh chấp có 35 cây mỡ do ông Phùng Chàn C và bà Đặng Mùi S trồng năm 2020, cây to nhất có vòng dây gốc là 45cm, cây nhỏ nhất có vòng dây gốc là 10cm. Cạnh phía bắc diện tích đất tranh chấp có 01 hào đất dài 45m, rộng 0,4m, sâu 0,2m do ông Triệu Tòn L đào tháng 02 năm 2023. Người được nguyên đơn ủy quyền yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Triệu Tòn L trả lại 730,6m² đất tranh chấp cho bà Trịnh Mùi T, quản lý, sử dụng. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.

Từ những căn cứ nhận định nêu trên, đủ cơ sở để khẳng định:

Diện tích 730,6m² đất tranh chấp giữa bà Trịnh Mùi T và ông Triệu Tòn L nằm trong thửa đất số 437 tờ bản đồ số 02 bản đồ địa chính xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn (Cũ) (Nay là xã C, tỉnh Thái Nguyên) được gia đình ông Đặng Dùn S1 và bà Trịnh Mùi T khai phá, sử dụng ổn định, liên tục đến khi xảy ra tranh chấp tháng 11 năm 2023, quá trình sử dụng không có tranh chấp và đã được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số AG861896 ngày 24/4/2009 cho hộ ông Đặng Dùn S1 và bà Trịnh Mùi T được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 1. Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Thái Nguyên và Chi nhánh Văn phòng Đ - Thái Nguyên khẳng định việc Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Dùn S1 và bà Trịnh Mùi T là đúng quy định. Do đó, căn cứ lời khai của các đương sự, người làm chứng và kết quả xác minh với Ủy ban nhân dân xã C, chi nhánh V đăng ký đất đai số 17 - Thái Nguyên và các tài liệu khác có trong hồ sơ, cho thấy việc bà Trịnh Mùi T yêu cầu ông Triệu Tòn L trả lại diện tích đất tranh chấp là 730,6m² là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Đối với 35 cây mỡ và 01 hào đất trên diện tích đất tranh chấp và hàng rào các đương sự không yêu cầu giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Đánh giá quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

[7]. Đánh giá quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trịnh Mùi T. Hội đồng xét xử xét thấy đề

nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[8]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự: Bị đơn ông Triệu Tòn L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Nguyên đơn bà Trịnh Mùi T đã nộp tạm ứng 5.000.000đ (Năm triệu đồng), do vậy bị đơn ông Triệu Tòn L phải hoàn trả cho bà Trịnh Mùi T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Triệu Tòn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn bà Trịnh Mùi T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
  • Căn cứ khoản 5 Điều 105, khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003.
  • Căn cứ Điều 4; Điều 5; khoản 3 Điều 135; Điều 166; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
  • Căn cứ Điều 2, Điều 4, Điều 26, Điều 184, Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024;
  • Căn cứ Điều 2; Điều 4; khoản 1 Điều 108 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2024.
  • Căn cứ khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Mùi T.
  2. Buộc ông Triệu Tòn L trả lại cho bà Trịnh Mùi T diện tích 730,6m² đất tranh chấp được giới hạn bởi các mốc từ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 1 nằm trong thửa đất số 437 tờ bản đồ số 02 đã được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG861896 ngày 24/4/2009 cho hộ ông Đặng Dùn S1 và bà Trịnh Mùi T. (có bản đồ đo đạc diện tích đất tranh chấp kèm theo bản án).
  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn ông Triệu Tòn L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Nguyên đơn bà Trịnh Mùi T đã nộp tạm ứng 5.000.000đ (Năm triệu đồng), do vậy buộc bị đơn ông Triệu Tòn L phải hoàn trả cho bà Trịnh Mùi T 5.000.000₫ (Năm triệu đồng).

Việc thi hành án dân sự số tiền chậm trả được thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về án phí: Nguyên đơn bà Trịnh Mùi T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003051 ngày 01/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Thái Nguyên).

Bị đơn ông Triệu Tòn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 9 - Thái Nguyên. (01b)
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên. (01b)
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên. (01b)
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. (01b)
  • - UBND xã Cao Minh. (01b)
  • - Các đương sự. (04b)
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. (01b)
  • - Lưu hs; lưu VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Hà Thanh Tuấn

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 04/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Mùi T - Triệu Tòn L "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger