|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:04/2025/DS-ST Ngày 27/6/2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Truyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vi Thanh Cầm
2. Ông Hà Thanh Oai
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh -Thư ký Toà án nhân dân tỉnh B
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh B tham gia phiên tòa: Ông Mai Duy Định-Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26/6/2025, ngày 27/6/2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh B mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: /2025/QĐXXST-DS ngày tháng năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hà Đức H, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh B. có mặt tại phiên tòa ngày 26/6/2025, vắng mặt tại phiên tòa ngày 27/6/2025
- Bị đơn: Bà Hà Thị H1, sinh năm 1947
Địa chỉ: Thôn B (nay là thôn H), xã T, huyện C, tỉnh B. có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh B: Đại diện theo ủy quyền: ông Dương Ngọc T – Chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C (nay là Phòng Nông nghiệp - Môi trường huyện C, tỉnh B). Có đơn xin vắng mặt
+ Ông Hà Đức D – sinh năm 1955, Địa chỉ: tổ A, phường G, thành phố T, tỉnh T. có mặt tại phiên tòa ngày 26/6/2025, vắng mặt tại phiên tòa ngày 27/6/2025
+ Bà Hà Thị N – sinh năm 1957 ; địa chỉ: tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh B. có mặt
+ Bà Hà Thị B – sinh năm 1962
Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện C, tỉnh B. có mặt
+ Bà Hà Thị H2 – sinh năm 1950
Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện C, tỉnh B. Vắng mặt
+ Bà Triệu Thị S
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa ngày 26/5/2025, vắng mặt tại phiên tòa ngày 27/5/2025
Những người làm chứng trong vụ án:
- Ông Hà Đức D1
- Ông Hà Đức C – sinh năm 1961. Vắng mặt
- Ông Lường Văn X – sinh năm 1954. Vắng mặt
- Ông Đinh Quang C1 – sinh năm 1954. Vắng mặt
- Ông Hà Đức Vui – sinh năm 1955. Vắng mặt
- Bà Hà Thị C2 – sinh năm 1953. Vắng mặt
- Ông Đinh Quang P – sinh năm 1947. Vắng mặt
Địa chỉ: thôn B (nay là thôn H), xã T, huyện C, tỉnh B Vắng mặt
Địa chỉ: thôn B (nay là thôn H), xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn
Địa chỉ: thôn Bản Pjải (nay là thôn Hợp Thành), xã Thanh Mai, huyện Chợ Mới, tỉnh B
Địa chỉ: thôn Bản Pjải (nay là thôn Hợp Thành), xã Thanh Mai, huyện Chợ Mới, tỉnh B
Địa chỉ: thôn B, (nay là thôn Hợp Thành) xã Thanh Mai, huyện Chợ Mới, tỉnh B
Địa chỉ: thôn Bản Pjải(nay là thôn Hợp Thành), xã Thanh Mai, huyện Chợ Mới, tỉnh B
Địa chỉ: thôn B(nay là thôn H), xã T, huyện C, tỉnh B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn trình bày:
Các bên đương sự có tranh chấp đất diện tích 173,7m² thuộc thửa đất số 105 tờ bản đồ số 53 được giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-1 (có bản trích đo thửa đất kèm theo) (theo bản đồ đo đạc chỉnh lý năm 2014), địa chỉ thửa đất tại thôn H, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Nguồn gốc thử đất này như sau: bố mẹ đẻ của ông H là cụ Hà Đức M có hai vợ trong đó vợ cả là cụ Nguyễn Thị B1 sinh được các con gồm: chị Hà Thị H1, chị Hà Thị N, chị Hà Thị B, chị Hà Thị H2
Vợ hai là cụ Nguyễn Thị H3, sinh được các con gồm anh Hà Đức D, anh Hà Đức H4 đến năm 1966, cụ Nguyễn Thị H3 chết.
Đến năm 1967, cụ Hà Đức M và cụ Nguyễn Thị B1 thống nhất đưa các ông Hà Đức D, ông Hà Đức H về sinh sống tại xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn cùng với các con của cụ Nguyễn Thị B1, khoảng năm 1969 vợ chồng cụ Hà Đức M + cụ Nguyễn Thị B1 đã chuyển đến vị trí đất hiện nay tranh chấp và nhà sàn trên thửa đất, tại thời điểm năm 1969 gia đình gồm vợ chồng cụ Hà Đức M+ Nguyễn Thị B1 và các con sinh sống tại ngôi nhà sàn này, tại thời điểm năm 1969 lúc đó chị Hà Thị H1 đã đi thoát ly gia đình từ năm 1965 đến năm 1972, chị H1 lấy chồng về ở rể và sinh sống tại ngôi nhà sàn trên thửa đất có tranh chấp đến khoảng năm 1975, vợ chồng cụ Hà Đức M đã làm nhà cho chị Hà Thị H1 ra ở riêng.
Đến năm 1979 thì cụ Nguyễn Thị B1 cùng bà Hà Thị H2, bà Hà Thị Bích C3 đến sinh sống cùng với bà Hà Thị H1, tại ngôi nhà sàn trên thửa đất tranh chấp thời điểm năm 1979 chỉ còn ông Hà Đức H sống với bố đẻ là cụ Hà Đức M.
Đến khoảng năm 1981 – 1982, ông Hà Đức H học xong cấp 3 vì hoàn cảnh gia đình nên cụ Hà Đức M không cho ông Hà Đức H thoát ly để ở nhà lấy vợ và trông nom gia đình, hương khói và cụ Hà Đức M có nói là cho ông Hà Đức H thửa đất hiện nay có tranh chấp đến năm 1984 ông Hà Đức H kết hôn cùng vào bà Triệu Thị S và sinh sống tại thửa đất có tranh chấp đến ngày 18/7/1986 âm lịch, cụ Hà Đức M chết.
Đến năm 1988, vợ chồng ông Hà Đức H + bà Triệu Thị S chuyển đến thôn T của xã T để làm quán bán hàng, ông H vẫn đi lại ngôi nhà sàn để trông nom nhà cửa, hương khói cho đến cuối năm 1988, cụ Nguyễn Thị B1 thấy ông Hà Đức H đi lại giữa khó khăn nên đã chủ động đến trông nhà, đất cho ông Hà Đức H, vài ngày sau vợ chồng ông Hà Đức H đã chuyển tư trang cá nhân lên quán nhưng các vật dụng gia đình và tất cả đồ nội thất như giường, tủ, bàn thờ cho cụ Nguyễn Thị B1 và bà Hà Thị H2 dùng, lúc đó bà Hà Thị H1 vẫn ở tại nhà của bà H1.
Sau khi cụ Nguyễn Thị B1 chuyển đến sinh sống tại thửa đất tranh chấp, bà Hà Thị H1 cũng chuyển đến sinh sống cùng, quá trình quản lý thửa đất bà Hà Thị H1 đã lén lút làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2002, ông Hà Đức H và ông Hà Đức D không được biết.
Đến ngày 25/8/2003 cụ Nguyễn Thị B1 chết.
Đến năm 2013, bà Hà Thị H1 đã mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi thế chấp để vay tiền cho con, anh chị em trong gia đình phát hện và ông Hà Đức D đã mời bà Hà Thị N, bà Hà Thị B và ông Hà Đức H và có mời ông Hà Đức V nguyên là trưởng ban công tác Mặt trận thôn đến họp gia đình và tại cuộc họp này có lập biên bản trong đó có nội
dung xác định thửa đất tranh chấp là của ông Hà Đức H nhưng cho bà Hà Thị H1 sinh sống trên thửa đất cho đến khi về già.
Ngoài ra bà Hà Thị H1 đã được vợ chồng cụ Hà Đức M làm nhà và cho thửa đất khác từ năm 1975, do vậy thửa đất này theo tập quán là của ông Hà Đức H.
Nay Ông Hà Đức H khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận ông Hà Đức H có quyền sử dụng đất đối với đất tranh chấp và yêu cầu buộc bà Hà Thị H1 trả lại thửa đất tranh chấp, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 354261 – do UBND huyện C cấp ngày 09/4/2003 đối với thửa đất không có số thửa, số tờ bản đồ với diện tích 183m².
2. Bị đơn bà Hà Thị H1 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Nguồn gốc thửa đất là của ông nội là ông Hà Đức L, đến năm 1959, bà Hà Thị H1 và mẹ đẻ là cụ Nguyễn Thị B1 đã cải tạo, khai phá diện tích đến để làm nhà, thời điểm này bố đẻ là cụ Hà Đức M đang sống cùng vợ hai là bà Nguyễn Thị H3 tại thôn S, xã N, huyện C không có công sức đóng góp.
Đến năm 1966, cụ Nguyễn Thị H3 chết nên năm 1968, cụ Hà Đức M đã bàn bạc với cụ Nguyễn Thị B1 để đưa các ông Hà Đức D, ông Hà Đức H về sinh sống cùng với cụ Nguyễn Thị B1 và các con của cụ Nguyễn Thị B1, đến khoảng năm 1969, vợ chồng cụ Hà Đức M + cụ Nguyễn Thị B1 và bà Hà Thị H1 làm ngôi nhà sàn trên thửa đất hiện nay có tranh chấp.
Đến khoảng năm 1970, bà Hà Thị H1 kết hôn và sinh sống tại thửa đất tranh chấp, đến năm 1975 vợ chồng bà Hà Thị H1 cùng chồng sinh sống tại ngôi nhà này cho đến khoảng năm 1979 vợ chồng bà Hà Thị H1 ra ở riêng, khoảng năm 1983 chồng của bà Hà Thị H1 chết lúc đó các con của bà Hà Thị H1 còn nhỏ gặp nhiều khó khăn nên cụ Nguyễn Thị B1 có lên hộ bà Hà Thị H1 trông con cái nhưng không ở cùng với bà Hà Thị H1 mà đi lại giữa hai nhà.
Đến ngày 18/7/1986, cụ Hà Đức M chết
Đến năm 1988, ông Hà Đức H cùng với bà Triệu Thị S chuyển đến thôn T xã T để sinh sống, lúc này còn cụ Nguyễn Thị B1 và bà Hà Thị H2 sống tại ngôi nhà sàn trên thửa đất có tranh chấp, do không có ai chăm sóc cụ Nguyễn Thị B1 và em gái bà Hà Thị H2 bị khuyết tật nên bà Hà Thị H1 đã chuyển đến sinh sống cùng.
Đến năm 2002 nhà nước triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Hà Thị H1 cùng với cụ Nguyễn Thị B1 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do các chị em gái đã lấy chồng và ông H, ông D đã có chỗ ở ổn định và bà Hà Thị H2 khuyết tật nên cụ Nguyễn Thị B1 đã để bà Hà Thị H1 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để sau này bà Hà Thị H1 chăm sóc bà Hà Thị H2.
Đến ngày 25/8/2003, cụ Nguyễn Thị B1 chết, đến năm 2005, bà Hà Thị H1 có làm lại ngôi nhà mới trên thửa đất đến năm 2012 có tu sửa, lợp lại mái và hiện trạng như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ.
Đối với đất đai do bố mẹ để lại có việc phân chia đất ruộng vào năm 1994, các anh chị em đã nhận và không có tranh chấp.
Năm 2013 có cuộc họp gia đình do thành viên trong gia đình phát hiện bà Hà Thị H1 thế chấp đất đất ruộng của bà H2 để vay tiền cho con, các anh chị em trong gia đình đã có cuộc họp có quán triệt không ai được tự ý mang đất đai của cha mẹ để lại đi thế chấp, biên bản do ông D lập, sau khi lập xong không kiểm tra lại nội dung và ký luôn, bà Hà Thị H1 cũng được phô tô biên bản để lưu lại cho đến thời điểm phát sinh tranh chấp gần đây bà Hà Thị H1 xem biên bản mới biết có nội dung “Lô đất hiện nay bà Hà Thị H1 đang ở thuộc quyền sở hữu của ông Hà Đức H nhưng hiện tại vẫn giao cho bà Hà Thị H1 ở đến về già”, biên bản này không được công chứng, chứng thực, việc lập biên bản với mục đích để quán triệt đất cha mẹ để lại không được mang đi thế chấp, tại thời điểm đó bà Hà Thị H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Bà Hà Thị H1 không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của, bà Hà Thị H1 không có yêu cầu phản tố trong vụ án.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy bản nhân dân huyện C tại văn bản số: 3188/UBND-TNMT, ngày 23/10/2024 nêu ý kiến:
Qua thu thập hồ sơ liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V354261 do UBND huyện C cấp ngày 09/4/2003 hộ bà Hà Thị H1 sinh năm 1947, địa chỉ Bản P, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, UBND huyện C yêu quan điểm đối với với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyên đơn Hà Đức H là không có cơ sở, quá trình thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Hà Thị H1 đã thực hiện theo đúng quy định.
2. Ông Hà Đức D trình bày tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án: bố mẹ đẻ là cụ Hà Đức M sinh năm 1923 và chết năm 1986, có vợ cả là cụ Nguyễn Thị B1 có các người con gồm Hà Thị H1 sinh năm 1947, bà Hà Thị H2 sinh năm 1950, bà Hà Thị N sinh năm 1957, bà Hà Thị Bích S1 năm 1962, trong đó bà Hà Thị H2 thuộc diện thiểu năng trí tuệ và được hưởng chính sách xã hội và hiện nay người giám hộ là bà Hà Thị H1.
Vợ thứ hai của cụ Hà Đức M là cụ Nguyễn Thị H3 sinh năm 1923 chết tháng 10 năm 1986, có hai con là ông Hà Đức D – sinh năm 1955 và ông Hà Đức H sinh năm 1962, khi mẹ đẻ của ông Hà Đức D chết năm 1966 đến năm 1967 được cụ Hà Đức M và cụ Nguyễn Thị B1 đón về sinh sống tại xã T cùng với các bà Hà Thị N, bà Hà Thị B, bà Hà Thị H2, lúc đó bà Hà Thị H1 đã đi thoát ly, đến năm 1967 do gia đình đông con nên vợ chồng cụ Hà Đức M đã đổi để lấy thửa đất có tranh chấp hiện nay và dựng ngôi nhà sàn trên thửa đất tranh chấp.
Đến năm 1979, cụ Nguyễn Thị B1 chuyển lên với bà Hà Thị H1 để sinh sống và từ năm 1979, ông Hà Đức H sống cùng với cụ Hà Đức M và trong thời gian từ năm 1981 – 1982, ông Hà Đức H được bố mẹ tặng cho thửa đất tranh chấp vì thời điểm đó ông H
đã học xong cấp 3 và các chị đã lập gia đình và bố xác định sống cùng với ông H theo phong tục tập quán tại địa phương cho đến khoảng năm 1984 kết hôn và đến năm 1988, vợ chồng ông H chuyển đến thôn Trung tâm xã T bán hàng và thường xuyên đi lại trông nom nhà cửa..
Năm 1988, cụ Nguyễn Thị B1 thấy hoàn cảnh khó khăn của ông Hà Đức H đi lại giữa hai nhà nên chuyển đến sinh sống tại thửa đất có tranh chấp để thuận lợi việc trông nom nhà cửa cho ông Hà Đức H và các bà Hà Thị H1, bà Hà Thị H2 cũng chuyển đến sinh sống với cụ Nguyễn Thị B1.
Năm 2002 khi nhà nước triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Hà Thị H1 đã lén lút đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông D và ông Hà Đức H không được biết.
Ông Hà Đức D khẳng định thửa đất tranh chấp đã được tặng cho ông Hà Đức H với lý do bà Hà Thị H1 đã được vợ chồng cụ Hà Đức M + cụ Nguyễn Thị B1 chia đất làm nhà ở riêng, bà Hà Thị N, bà Hà Thị Bích L1 gia đình không có phần được chia, ông Hà Đức D thoát ly
Năm 2013 có tổ chức họp gia đình, trong đó có thỏa thuận giữa các thành viên trong gia đình với nội dung “Lô đất hiện nay bà Hà Thị H1 đang ở thuộc quyền sở hữu của ông Hà Đức H nhưng hiện tại vẫn giao cho bà Hà Thị H1 ở đến về già”.
Năm 2021, gia đình bà Hà Thị H1 được xếp vào hộ nghèo của xã và được địa phương hỗ trợ nhà tình nghĩa nhưng khi bàn giao nhà bà H1 không chuyển lên ở mà để con trai sử dụng làm nhà bếp thời điểm này ông D, ông Hà Đức D và ông Hà Đức H mới biết thửa đất tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Hà Thị H1.
Ông Hà Đức D nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Hà Đức H vì thửa đất đã được tặng cho ông H, ông D không tranh chấp về thừa kế và không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Về quá trình sinh sống của ông Hà Đức D: Ông D và ông H về xã T sinh sống từ năm 1967 và từ năm 1969 về sống cùng với cụ Hà Đức M + cụ Nguyễn Thị B1 và các bà Hà Thị B, bà Hà Thị N, bà Hà Thị H2 cho đến năm 1973 ông Hà Đức D đi bộ đội, sau năm 1977 chuyển ngành về trường V1, đến năm 1979 về nghỉ chờ quyết định tại xã T đến năm 1980 đến năm 1983, vì xác định cho ông H ở cùng nên ông Hà Đức D thoát ly xuống T1 nguyên sinh sống làm việc.
3. Bà Hà Thị N trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Bố tôi là Hà Đức M sinh năm 1923 mất năm 1986, ông M có 02 vợ vợ cả là bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1920, mất năm 2003, bố tôi với mẹ tôi có 04 người con là Hà Thị H1 sinh năm 1947 địa chỉ thôn Bản Pjải, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Hà Thị H2, sinh năm 1950 địa chỉ thôn Bản Jai, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Hà Thị N, sinh năm 1957, địa chỉ ở phường H, thành phố B; Hà Thị B, sinh năm 1962 địa chỉ thôn A, xã T, huyện C. Vợ thứ hai của ông M là Nguyễn Thị H3 sinh năm 1923 mất tháng 10/1966 bà
H3 là có 02 con là em Hà Đức D sinh năm 1955 địa chỉ phường G, thành phố T, và em trai là Hà Đức H sinh năm 1962 tại thôn T xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Trong gia đình có chị Hà Thị H2 thiểu năng trí tuệ và được hưởng chính sách xã hội hiện nay người giám hộ của chị H2 là chị Hà Thị H1.
Ông Hà Đức M, Nguyễn Thị B1 và Nguyễn Thị H3 không có con nuôi.
Đối với diện tích đất hiện nay đang có tranh chấp trên đất có 01 ngôi nhà sàn do bố mẹ tôi tạo lập năm 1969 hiện nay chị H1 và chị H2 đang ở tại căn nhà này. Trong quá trình sử dụng đã tu sửa lại.
Quá trình thoát ly sinh sống của từng anh chị em trong gia đình cụ thể:
Tôi lấy chồng tại xã T, đến năm 1974 tôi lấy chồng khi kết hôn cưới hỏi đều tại ngôi nhà của bố mẹ mà hiện nay đang tranh chấp, Sau khi tôi đi lấy chồng thì ở tại nhà chồng và các tài sản của chị đều tạo lập ở nhà chồng không được bố mẹ chia cho tài sản gì liên quan đến nhà bố mẹ đẻ.
Chị Hà Thị Bích L2 chồng tại xã T, chị B lấy chồng năm 1982 khi kết hôn cưới hỏi đều tại ngôi nhà của bố mẹ mà hiện nay đang tranh chấp, Sau khi chị B đi lấy chồng thì ở tại nhà chồng và các tài sản của chị đều tạo lập ở nhà chồng không có gì liên quan đến nhà bố mẹ đẻ
Chị Hà Thị H2 bị thiểu năng trí tuệ nên ở cùng chị H1 tại căn nhà hiện nay đang tranh chấp.
Ông Hà Đức D đi bộ đội từ năm 1973, sau khi đi bộ đội xong ông = D về lấy vợ và cùng vợ đi sinh sống và làm việc tại Thái Nguyên.
Khoảng năm 1967 thì bố mẹ tôi bà đã đón anh em H và D về ở cùng bố mẹ tôi và 3 chị em H2, H1, B. Do đông người nên gia đình tôi chuyển về ở tại ngôi nhà đang tranh chấp.
Khoảng năm 1979 bà B1 chuyển lên trông con cho chị H1 vì chồng chị H1 mất nhưng vẫn lại tại ngôi nhà này. Đến năm 1988 chú H chuyển đi nơi khác, bà B1 cùng chị H2 quay trở lại ngôi nhà này. Ngày 25/8/2003 ( al) bà B1 chết.
Khoảng năm 1988, vì lý do không ai chăm sóc mẹ và chị H2 nên chị H1 phải quay trở về để chăm sóc cho mẹ và em tôi.
Năm 1984 ông Hà Đức H kết hôn, tổ chức đám cưới và sinh sống tại ngôi nhà này.
Đến năm 1988 do sức khỏe yếu vợ cả chú H bỏ lên trung tâm để sinh sống, khoảng năm 1986 cụ Hà Đức M chết.
Khi ông bà chết không có di chúc và giấy tờ gì.
Cuộc họp ngày 30/12/1994 có nội dung liên quan đến chia đất ruộng và không đề cập đến nhà đất mà hiện nay đang tranh chấp và các bên đều thực hiện đúng như biên bản, không có tranh chấp phần đất ruộng. Diện đất ruộng có chia cho mẹ tôi, chị H1, chị H2, anh D và chú H.
Nội dung của biên bản họp bổ sung ngày 13/01/2013 có nguyên nhân là chị H1 khó khăn, con chị H1 có nhu cầu xin việc nên mới lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị H2 đi vay vốn ngân hàng và tại cuộc họp có lập biên bản trong đó có nói giao đất cho anh H với mục đích để răn đe không cho ai mang đi vay ngân hàng, nội dung ghi trong biên bản ngày 13/01/2013 không phải là thỏa thuận phân chia đất cho ông Hà Đức H.
Tại thời điểm triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002, các anh chị em trong gia đình đã có nhà cửa riêng, tại thửa đất tranh chấp còn cụ Nguyễn Thị B1 và bà Hà Thị H1, bà Hà Thị H2 sinh sống, lúc đó cụ Nguyễn Thị B1 có nguyện vọng để bà Hà Thị H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp để chị H1 đứng tên sau này có thể chăm sóc và nuôi dưỡng cho chị H2.
Đến tháng 8 năm 2023 cụ Nguyễn Thị B1 chết.
4. Chị Hà Thị B trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Bố tôi là Hà Đức M sinh năm 1923 mất năm 1986, ông M có 02 vợ vợ cả là bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1920, mất năm 2003, bố tôi với mẹ tôi có 04 người con là Hà Thị H1 sinh năm 1947 địa chỉ thôn Bản Pjải, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Hà Thị H2, sinh năm 1950 địa chỉ thôn Bản Jai, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Hà Thị N, sinh năm 1957, địa chỉ ở phường H, thành phố B; Hà Thị B, sinh năm 1962 địa chỉ thôn A, xã T, huyện C.
Vợ thứ hai của ông M là Nguyễn Thị H3 sinh năm 1923 mất tháng 10/1966, bà H3 là có 02 con là em Hà Đức D sinh năm 1955 địa chỉ phường G, thành phố T, và em trai là Hà Đức H sinh năm 1962 tại thôn T xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Trong gia đình có chị Hà Thị H2 thiểu năng trí tuệ và được hưởng chính sách xã hội hiện nay người giám hộ của chị H2 là chị Hà Thị H1.
Ông Hà Đức M, Nguyễn Thị B1 và Nguyễn Thị H3 không có con nuôi.
Đối với diện tích đất hiện nay đang có tranh chấp trên đất có 01 ngôi nhà sàn do bố mẹ tôi tạo lập năm 1969 hiện nay chị H1 và chị H2 đang ở tại căn nhà này. Trong quá trình sử dụng đã tu sửa lại, giờ nay bà H1 và bà H2 đang sử dụng.
Khoảng năm 1967 thì bố mẹ tôi bà đã đón anh em H và D về ở cùng bố mẹ tôi và 3 chị em H2, H1, B. Do đông người nên gia đình tôi chuyển về ở tại ngôi nhà đang tranh chấp.
Khoảng năm 1979 bà B1 chuyển lên trông con cho chị H1 vì chồng chị H1 mất nhưng vẫn lại tại ngôi nhà này. Đến năm 1988 chú H chuyển đi nơi khác, bà B1 cùng chị H2 quay trở lại ngôi nhà này. Ngày 25/8/2003 ( al) bà B1 chết.
Khoảng năm 1988, vì lý do không ai chăm sóc mẹ và chị H2 nên chị H1 phải quay trở về để chăm sóc cho mẹ và em tôi.
Năm 1984 ông Hà Đức H kết hôn, tổ chức đám cưới và sinh sống tại ngôi nhà này.
Đến năm 1988 do sức khỏe yếu vợ cả chú H bỏ lên trung tâm để sinh sống, khoảng năm 1986 cụ Hà Đức M chết.
Khi ông bà chết không có di chúc và giấy tờ gì.
Cuộc họp ngày 30/12/1994 có nội dung liên quan đến chia đất ruộng và không đề cập đến nhà đất mà hiện nay đang tranh chấp và các bên đều thực hiện đúng như biên bản, không có tranh chấp phần đất ruộng. Diện đất ruộng có chia cho mẹ tôi, chị H1, chị H2, anh D và chú H.
Nội dung của biên bản họp bổ sung ngày 13/01/2013 có nguyên nhân là chị H1 khó khăn, con chị H1 có nhu cầu xin việc nên mới lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị H2 đi vay vốn ngân hàng và tại cuộc họp có lập biên bản trong đó có nói giao đất cho anh H với mục đích để răn đe không cho ai mang đi vay ngân hàng, nội dung ghi trong biên bản ngày 13/01/2013 không phải là thỏa thuận phân chia đất cho ông Hà Đức H.
Tại thời điểm triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002, các anh chị em trong gia đình đã có nhà cửa riêng, tại thửa đất tranh chấp còn cụ Nguyễn Thị B1 và bà Hà Thị H1, bà Hà Thị H2 sinh sống, lúc đó cụ Nguyễn Thị B1 có nguyện vọng để bà Hà Thị H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp để chị H1 đứng tên sau này có thể chăm sóc và nuôi dưỡng cho chị H2.
Đến tháng 8 năm 2023 cụ Nguyễn Thị B1 chết.
Các con bà H1 đã tách ra ở riêng không ai ở cùng chị H1.
5. Bà Triệu Thị S trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:
Bà S kết hôn cùng với ông Hà Đức H vào năm 1984, sau khi kết hôn về sinh sống tại thửa đất có tranh chấp, thời điểm đó trong gia đình có cụ Hà Đức M và vợ chồng bà S, ông Hà Đức D và các bà Hà Thị N, bà Hà Thị B, bà Hà Thị H1 đã lập gia đình ra ở riêng, bà H2 chuyển đến sinh sống cùng với cụ Nguyễn Thị B1 tại nhà bà H1.
Khoảng năm 1986, cụ Hà Đức M chết, khoảng năm 1990 hai vợ chồng bà S chuyeẻn đến thôn trung tâm để sinh sống và thường xuyên đi lại thăm nom nhà cửa, đến khoảng năm 1993 hai vợ chồng bà S chuyển lên ở hẳn tại thôn T của xã T, sau này cụ Nguyễn Thị B1 chuyển đến trông nom giúp nhà cửa và sau đó bà Hà Thị H1, bà Hà Thị H2 chuyển đến sinh sống và ở nhờ để trông nom nhà cửa, trong quá trình sinh sống trên thửa đất bà Hà Thị H1 tự ý kê khai thửa đất để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2013, gia đình phát hiện bà Hà Thị H1 dùng sổ bìa đỏ đất ruộng của bà Hà Thị H2 thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền cho con gái nên chúng tôi đã họp gia đình và quán triệt việc sử dụng đất ông cha, trong đó có đề cập đến việc giao cho chồng tôi quyền quản lý về đất đai.
Bà Triệu Thị S xác định tài sản tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng, ông Hà Đức H đã được giao quyền sở hữu trong thời kỳ vợ chồng cụ Hà Đức M, cụ Nguyễn Thị B1 còn sống.
Nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
* Những người làm chứng trình bày:
1. Ông Hà Đức C tại biên bản lấy lời khai ngày 25/9/2024 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất là của ông Hà Đức M và bà Hà Thị B2, nguồn gốc thửa đất có ông T2 là người đầu tiên khai phá dựng nhà tạm để ở, tuy nhiên sau đó lũ lụt nhiều nên ông T2 đã đổi thửa đất này cho vợ chồng ông Hà Đức M.
Sau khi đổi đất vợ chồng ông Hà Đức M dựng nhà sàn trên thửa đất và cùng các con sinh sống.
Ông Hà Đức M có hai bà vợ, trong đó vợ 2 có các con là Anh Hà Đức D, anh Hà Đức H, sau khi vợ 2 của ông M chết, ông M đã đưa anh D, ông anh H về sinh sống cùng với bà Nguyễn Thị B1 và các con của bà B1.
Sau khi các con lập gia đình, thực tế sinh sống tại ngôi nhà này có vợ chồng ông Hà Đức M và vợ chồng anh H + chị S và chị H2, anh D đi làm ăn xa và có gia đình riêng.
Sau này chồng của chị Hà Thị H1 chết, bà Nguyễn Thị B1 và chị Hà Thị H2 chuyển đến sinh sống tại nhà bà H1.
Trên thửa đất tranh chấp chỉ còn ông Hà Đức M và vợ chồng anh Hà Đức H và vợ 2 của anh H sinh sống.
Sau khi anh Hà Đức M chết, vợ chồng anh Hà Đức H + chị Triệu Thị S chuyển đến thôn T để sinh sống, nhà sàn tại thửa đất tranh chấp khóa cửa không ai ở, sau đó bà Nguyễn Thị B1 và các con gồm chị Hà Thị H1, chị Hà Thị H2 chuyển đến sinh sống đến bây giờ.
2, Ông Lường Văn X trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 25/9/2024:
Nguồn gốc thửa đất là của ông Hà Đức M và bà Hà Thị B2, nguồn gốc thửa đất có ông T2 là người đầu tiên khai phá dựng nhà tạm để ở, tuy nhiên sau đó lũ lụt nhiều nên ông T2 đã đổi thửa đất này cho vợ chồng ông Hà Đức M.
Sau khi đổi đất vợ chồng ông Hà Đức M dựng nhà sàn trên thửa đất và cùng các con sinh sống.
Ông Hà Đức M có hai bà vợ, trong đó vợ 2 có các con là Anh Hà Đức D, anh Hà Đức H, sau khi vợ 2 của ông M chết, ông M đã đưa anh D, ông anh H về sinh sống cùng với bà Nguyễn Thị B1 và các con của bà B1.
Sau khi các con lập gia đình, thực tế sinh sống tại ngôi nhà này có vợ chồng ông Hà Đức M và vợ chồng anh H + chị S và chị H2, anh D đi làm ăn xa và có gia đình riêng.
Sau này chồng của chị Hà Thị H1 chết, bà Nguyễn Thị B1 và chị Hà Thị H2 chuyển đến sinh sống tại nhà bà H1.
Trên thửa đất tranh chấp chỉ còn ông Hà Đức M và vợ chồng anh Hà Đức H và vợ 2 của anh H sinh sống.
Khoảng năm 1990 ông Hà Đức M chết, vợ chồng anh Hà Đức H + chị Triệu Thị S chuyển đến thôn T để sinh sống và đến khoảng năm 1993 chuyển hẳn lên thôn T xã T để sinh sống, nhà sàn tại thửa đất tranh chấp khóa cửa không ai ở, sau đó bà Nguyễn Thị B1 và các con gồm chị Hà Thị H1, chị Hà Thị H2 chuyển đến sinh sống đến bây giờ.
Trên thực tế trong gia đình ông M giữa các con phân chia thỏa thuận như thến nào
đối với đất tranh chấp thì ông X không được biết.
3. Ông Đinh Quang C1 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 25/9/2024:
Nguồn gốc thửa đất là của ông Hà Đức M và bà Hà Thị B2, nguồn gốc thửa đất có ông T2 là người đầu tiên khai phá dựng nhà tạm để ở, tuy nhiên sau đó lũ lụt nhiều nên ông T2 đã đổi thửa đất này cho vợ chồng ông M.
Sau khi đổi đất vợ chồng ông Hà Đức M dựng nhà sàn trên thửa đất và cùng các con sinh sống.
Ông Hà Đức M có hai bà vợ, trong đó vợ 2 có các con là ông Hà Đức D, ông Hà Đức H, sau khi vợ 2 của ông M chết, ông M đã đưa ông D, ông H về sinh sống cùng với bà Nguyễn Thị B1 và các con của bà B1.
Quá trình sinh sống các con gái của ông Hà Đức M xây dựng gia đình ra ở riêng. Con trai theo phong tục vẫn ở cùng bố mẹ
Sau khi ông Hà Đức M chết, Thực tế sau khi lấy chồng bà Hà Thị H1 ra ở riêng, có một thời gian bà Hà Thị B2 và bà Hà Thị H2 đến sống cùng với bà H1, thời gian đó ông H trông coi nhà và thửa đất, tuy nhiên sau khi bà S chuyển đến thôn khác, ông H vẫn đi lại trông coi cả hai nhà và sau này ông H chuyển hẳn đên sinh sống với tại thôn khác, từ đó bà Nguyễn Thị B1 và bà Hà Thị H1, bà Hà Thị H2 chuyển đến sinh sống trên thửa đất tranh chấp cho đến hiện nay.
4. Ông Hà Đức V trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Nguồn gốc thửa đất ban đầu là của ông T2 (anh trai của ông Hà Đức M), lúc đó ông Hà Đức M đang sống cùng với bà Nguyễn Thị H3 tại thôn S, xã N, còn bà vợ cả là Nguyễn Thị B1 cùng các con sinh sống ở một thửa đất khác và ông Hà Đức M đi lại giữa hai nhà cho đến khoảng năm 1959 ông Thị đổi thửa đất này với thửa đất của bà Nguyễn Thị B1.
Sau khi bà Nguyễn Thị H3 chết, ông Hà Đức M đã đưa các con là ông Hà Đức D, ông Hà Đức H về sinh sống cùng bà Nguyễn Thị B1 và các con của bà B1 tại thửa đất tranh chấp.
Sau này các ông Hà Đức D, bà Hà Thị N, bà Hà Thị Bích L1 gia đình ra ở riêng còn bà Hà Thị H1 lấy chồng về sau khi chồng của bà H1 về phục viên thì bà H1 mới làm nhà ra ở riêng, khi đó nhà còn lại vợ chồng ông Hà Đức M + bà Nguyễn Thị B1 và ông H.
Năm 1973, chồng của bà Hà Thị H1 chết thì bà Nguyễn Thị B1 lên trông con hộ bà Hà Thị H1 và bà B1 đi lại giữa nhà đất hiện nay có tranh chấp và nhà bà H1, được thời gian sau thì bà Nguyễn Thị B1 và bà Hà Thị H2 lên ở hẳn nhà bà Hà Thị H1,
Sau khi ông H lập gia đình nhà lúc này còn ông Hà Đức M và vợ chồng ông H sinh sống, Sau khi ông Hà Đức M chết, vợ hai của ông H bỏ nhà đi, bà Triệu Thị S chuyển đến thôn T để sinh sống và ông H cũng chuyển theo bà Triệu Thị S đến thôn T để sinh sống, nhà sàn tại thửa đất tranh chấp khóa cửa không ai ở, sau đó bà Nguyễn Thị B1 và các con gồm bà Hà Thị H1, bà Hà Thị H2 chuyển đến sinh sống đến bây giờ.
Về biên bản cuộc họp gia đình năm 2013: Ông V không được tham gia họp từ đầu
nhưng được bà H1, ông D, ông H gọi đến tham gia khi đã họp gần xong, sau khi biên bản được lập xong thì mọi người ký biên bản trước và ông V là người ký sau cùng và ông V xác nhận biên bản họp gia đình ngày 03/01/2013 xác nhận đúng nội dung ông V đọc và ký thời điểm đó.
5. Bà Hà Thị C2 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:
Nguồn gốc thửa đất sau khi ông Thị chuyển đi thì vợ chồng ông Hà Đức M chuyển đến sinh sống và dựng nhà sàn trên thửa đất.
Ông Hà Đức M có hai bà vợ, trong đó vợ 2 có các con là ông Hà Đức D, ông Hà Đức H, sau khi vợ 2 của ông M chết, ông M đã đưa ông D, ông H về sinh sống cùng với bà Nguyễn Thị B1 và các con của bà B1.
Các con sau đó lập gia đình ra ở riêng, trong đó ông Hà Đức D và ông Hà Đức H xây dựng gia đình riêng nhưng theo phong tục tập quán thì vẫn đi về với gia đình gốc, sau này ông M chết, chồng bà H1 chết, ông H sinh sống tại thôn khác, gia đình ông D ở xa nên bà H1 quay về sống cùng với bà B1 và bà H2 từ đó đến nay.
Ngày 25/7/2021 ông D có về gặp bà Hà Thị H1 để hỏi về việc làm sổ bìa đỏ đối với thửa đất đang tranh chấp, tại buổi nói chuyện, bà C2 có nghe bà H1 nói là sau này sẽ trả giấy tờ cho ông D làm sổ bìa đỏ nhưng phải để bà H1 ý kiến các con và anh em.
6. Ông Đinh Quang P trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Ông P xác định nội dung “ ngôi nhà bà Hà Thị H1 đang ở là của bố con ông M và 02 con trai” về nội dung này là không đúng, theo ông P thì nhà, đất là của chung những người thực tế còn sống thời điểm dựng nhà gồm ông L (bố đẻ của ông Hà Đức M), vợ chồng ông Hà Đức M và vợ chồng ông H + bà S.
Các con gái của bà Nguyễn Thị B1 sau khi lập gia đình không liên quan đến nhà gốc của bố mẹ nữa, ông D đi làm ăn xa và có gia đình riêng.
Nội dung “bà H1 cùng với mẹ là bà B1- con gái H2 cùng các con ở cạnh nhà tôi ở khu vực nà Pjải” là không đúng, thực tế sau khi ông M chết, còn lại bà B1, bà H2, vợ chồng ông H + bà S sinh sống tại ngôi nhà sàn, bà H1 khi này đã ở riêng, tuy nhiên chồng bà H1 chết, bà B1 và bà H2 đi lại hộ bà H1 trông nom con cái nhưng không phải là ở hẳn cùng với bà H1, ông H thời gian này cũng đi lại giữa hai nơi do vợ chồng mở quán tạm tại thôn khác và một thời gian sau thì ông H ở hẳn với vợ tại thôn khác.
Bà H1 về ở cùng với bà B1, bà H2 tại thửa đất có tranh chấp cho đến nay.
Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ông P là trưởng thôn xã B và là thanh viên của Hội đồng đăng ký đất đai xã T tham gia thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hà Thị H1, cụ thể tham gia phiên họp xét đơn đăng ký quyền sử dụng đất, các hộ gia đình có đơn đăng ký đất đai đều đảm bảo việc sử dụng ổn định, lâu dài không có tranh chấp trong đó có hộ bà Hà Thị H1, do đó việc xác định bà Hà Thị H1 có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định, còn nội bộ gia đình bà H1, ông H thống nhất với nhau thì như thế nào thì ông P cũng như Hội đồng xét duyệt không nắm được và thực tế ông H5 cũng không có ý kiến gì với Hội đồng đăng ký đất đai, ông H5 có biết chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
7, Anh Hà Đức D1 trình bày:
Bà Hà Thị H1 đã thoát ly và lấy chồng bộ đội, khoảng năm 1975 cả hai vợ chồng về quê làm ruộng, đến năm 1976 vợ chồng bà Hà Thị H1 ra ở riêng ở đầu thôn bản P1 và vài năm sau thì bà Nguyễn Thị B1 và các em di chuyển đến ở với vợ chồng bà Hà Thị H1
Ngôi nhà còn lại ông Hà Đức M và vợ chồng ông H ở
Năm 2021 khi được hộ nghèo bà Hà Thị H1 đã để con trai làm bếp mà không ở và xác định ngôi nhà và thửa đất là của hai anh em ông Hà Đức H, ông Hà Đức D.
Ông Hà Đức D1 không được tham dự cuộc họp nhưng được biết năm 1994 có 01 cuộc họp gia đình có nội dung chia đất ruộng và đất đồi, còn nhà, đất hiện nay có tranh chấp không chia là của hai anh em ông D, ông H vì bà Hà Thị H1 đã được bố mẹ đẻ chia đất và làm nhà năm 1976,
Việc bà Hà Thị H1 làm sổ bìa đỏ lúc nào không ai biết cho đến năm 2021 mới phát hiện bà H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Hà Đức H và ông Hà Đức D có ý kiến đề nghị bà H1 nhưng không được và xảy ra tranh chấp.
*Anh Nguyễn Đình Đ và bà Lèng Thị C4 cùng thống nhất trình bày:
Chúng tôi là thành viên hộ gia đình nhưng chỉ có ý nghĩa về việc quản lý hành chính tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối với nhà đất hiện nay có tranh chấp là của bà H1 chúng tôi xác định bản thân không có quyền lợi gì, không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ việc.
Tại phiên tòa các đương sự giữ nguyên quan điểm, ý kiến.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày: bà H1 đã có công khai phá, tôn tạo đất đai, quản lý, sử dụng đất liên tục, ổn định, không tranh chấp từ năm 1988 (trước ngày 15/10/1993), được UBND xã xác nhận và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng đối tượng, trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận đất, giao đất theo quy định của pháp luật. Thực tế, ông H không trực tiếp sử dụng, không đăng ký, kê khai diện tích đất tranh chấp và cũng không có một trong các loại giấy tờ theo Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, Điều 137 Luật Đất đai năm 2024.
Bà Hà Thị H1 trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng mẹ bà Nguyễn Thị B1, ngoài ra còn chăm sóc, nuôi dưỡng bà Hà Thị H2 là em gái của bà H1 và cũng là chị gái của ông H. Việc ông H từng có thời gian được sinh sống trong căn nhà được dựng lên bên trên diện tích đất tranh không phải là căn cứ phát sinh quyền đòi đất và được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Luật Đất đai. Do đó, ông H không có quyền sử dụng hợp pháp đối với phần đất tranh chấp.
Đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hà Đức H.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều Điều 101 và Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điều 26, 34 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: buộc bà Hà Thị H1 phải trả lại phần đất tranh chấp diện tích 173,7m² thuộc thửa đất số 105, tờ bản đồ số 53, loại đất ODT (đất ở) có địa chỉ tại thôn H, xã T, huyện C và yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V354261 do UBND huyện C cấp ngày 09/4/2003 cho hộ bà Hà Thị H1.
Án phí và chi phí tố tụng: đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:
căn cứ đơn khởi kiện và các lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hà Đức H khởi kiện yêu cầu công nhận có quyền sử dụng đất đối với đất tranh chấp và buộc bà Hà Thị H1 trả lại thửa đất tranh chấp với lý do khoảng năm 1981-1982 đã được bố đẻ là cụ Hà Đức M tặng cho thửa đất này và có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Hà Thị H1 đối với thửa đất tranh chấp.
Do vậy Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Căn cứ Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 32 của Luật tố tụng hành chính, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Bắc Kạn.
Về thủ tục tố tụng: Đại diện UBND huyện C vắng mặt nhưng đã cung cấp tài liệu và có ý kiến, quan điểm đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Hà Thị H1. Bà Hà Thị H2 thuộc diện khuyết tật sinh sống cùng với bà Hà Thị H1, sinh hoạt hàng ngày đều do bà Hà Thị H1 hỗ trợ và các đương sự tại xác định bà Hà Thị H1 là người giám hộ cho bà Hà Thị H2.
Đối với các con đẻ của bà Hà Thị H1 và con dâu của bà Hà Thị H1 đều có tên trong hộ khẩu gia đình bà H1 tại thời điểm năm 2003 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đều khẳng định có tên trong hộ khẩu là quy định về hành chính, còn đối với thửa đất tranh chấp không liên quan, căn cứ vào nguồn gốc và quá trình quản lý và căn cứ vào thời điểm năm 2002 tại thời điểm làm thủ tục kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thửa đất chỉ có cụ Nguyễn Thị B1, bà Hà Thị H1 và bà Hà Thị H2 đang sinh sống và nguồn gốc các bên đương sự đều khẳng định có nguồn gốc của vợ chồng cụ Nguyễn Thị B1 đã khai phá dựng nhà từ năm 1969.
[2]. Hiện trạng đất tranh chấp:
các bên đương sự tranh chấp đất có diện tích 173,7m² thuộc thửa đất số 105 tờ bản đồ số 53 được giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-1 (có bản
trích đo thửa đất kèm theo) (theo bản đồ đo đạc chỉnh lý năm 2014), địa chỉ thửa đất tại thôn H, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Tài sản trên đất bao gồm 01 nhà sàn đã cũ, ngoài ra không có tài sản nào có giá trị trên thửa đất.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của Nguyên đơn,
Hội đồng xét xử nhận định: các bên đương sự đều xác nhận thửa đất tranh chấp có nguồn gốc là tài sản để lại của cụ Hà Đức M+ cụ Nguyễn Thị B1 khai phá từ năm 1969 và có dựng ngôi nhà sàn trên thửa đất tranh chấp, đều thừa nhận việc tổ chức đám cưới cho các con đều được tổ chức tại ngôi nhà sàn này trên thửa đất tranh chấp, các bên đương sự cũng xác nhận khi còn sống vợ chồng cụ M không để lại di chúc, không tổ chức cuộc họp trong gia đình về việc tặng cho thửa đất tranh chấp cho các con.
Các bên đương sự khai thống nhất cụ Hà Đức M sinh năm 1923 và chết 18/7/1986 (âm lịch) có vợ cả là cụ Nguyễn Thị B1 sinh năm 1920 và chết ngày 25/8/2003 (âm lịch) có các con bao gồm bà Hà Thị H1, bà Hà Thị N, bà Hà Thị B, Hà Thị H2.
Vợ thứ hai là cụ Nguyễn Thị H3 sinh năm 1923 và chết năm 1966, có hai con là ông Hà Đức D và ông Hà Đức H.
Không có con nuôi.
- Hội đồng xét xử xét thấy ông Hà Đức H khai nhận được vợ chồng cụ Minh T3 cho thửa đất này vào khoảng năm 1981-1982 nhưng không xuất trình được các tài liệu chứng minh việc tặng cho, tại phiên tòa ông Hà Đức H, ông Hà Đức D và các bà Hà Thị N, bà Hà Thị B, bà Hà Thị H1 đều khẳng định thời điểm cụ Hà Đức M và cụ Nguyễn Thị B1 còn sống không để lại di chúc, không làm văn bản tặng cho đối với thửa đất tranh chấp và cũng không tổ chức cuộc họp trong gia đình tặng cho quyền sử dụng đất cho các con.
- Ông Hà Đức H khai nhận do theo phong tục tập quán là con trai sinh sống cùng với cụ Hà Đức M nên được chia cho thửa đất tuy nhiên tập quán phong tục phải phù hợp với quy định của pháp luật
Bản thân ông Hà Đức H và các anh chị trong gia đình và những người làm chứng đều xác nhận: vợ chồng ông Hà Đức H sinh sống tại thửa đất này cho đến khoảng năm 1988 chuyển đến thôn T xã T để bán hàng, ngôi nhà sàn và thửa đất tranh chấp được cụ Nguyễn Thị B1 và bà Hà Thị H2 đến ở từ năm 1988 và sau đó bà Hà Thị H1 đến sinh sống cùng cụ Nguyễn Thị B1 và bà Hà Thị H2, đến khoảng năm 1993, ông Hà Đức H chuyển hẳn lên sống tại thôn T của xã T.
Mặt khác năm 2002 nhà nước triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thấy rằng việc triển khai cấp đất được triển khai trong toàn xã T, ông Hà Đức H khai được cụ Hà Đức M và Nguyễn Thị B1 tặng cho quyền sử dụng đất nhưng không tiến hành kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm năm 2002 khi triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ Nguyễn Thị B1 còn sống và sống cùng với bà Hà Thị H1, bà
Hà Thị H2 bị khuyết tật đều trực tiếp sinh sống trên thửa đất tranh chấp và bà Hà Thị H1 kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời điểm đó cụ Nguyễn Thị B1 cũng không có ý kiến phản đối, ông Hà Đức H khai được vợ chồng cụ Hà Đức M và cụ Nguyễn Thị B1 tặng cho quyền sử dụng đất là không có cơ sở
Từ năm 1988 từ thời điểm cụ Nguyễn Thị B1, bà Hà Thị H1, bà Hà Thị H2 đến sinh sống thửa đất cho đến năm 2022, ông Hà Đức H cũng không có tranh chấp và cũng không có khiếu nại về việc nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hà Thị H1 cho đến năm 2022 nguyên nhân phát sinh tranh chấp do ông Hà Đức D yêu cầu bà Hà Thị H1 làm thủ tục chuyển tên đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên của ông Hà Đức H để sử dụng thửa đất vào mục đích xây dựng nhà thờ họ thì hai bên mới có phát sinh tranh chấp.
-Quá trình giải quyết vụ án ông Hà Đức H và ông Hà Đức D khai năm 2013 đã có cuộc họp trong gia đình trong đó công nhận ông Hà Đức H có quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp, Hội đồng xét xử nhận định: ngày 03/01/2013 có biên bản họp bổ sung trong đó có nội dung “Lô đất hiện nay bà Hà Thị H1 đang ở thuộc quyền sở hữu của ông Hà Đức H nhưng hiện tại vẫn giao cho bà Hà Thị H1 ở đến về già” là bản phô tô, các bên không cung cấp được bản gốc nhưng đều xác nhận có ghi nhận nội dung này trong biên bản không phản đối nội dung này, Hội đồng xét xử xét thấy các bên đương sự đều thừa nhận nguyên nhân của việc lập biên bản là do xuất phát từ việc bà Hà Thị H1 đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Hà Thị H2 để vay tiền cho con gái của bà H1 nên các chị em trong gia đình họp và lập biên bản để đảm bảo việc quản lý đối với khối tài sản do bố mẹ để lại, xét thấy theo quy định của Luật đất đai văn bản trên không phải là văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, không phải là văn bản tặng cho quyền sử dụng đất, biên bản trên chỉ ghi lại ý kiến đối với thửa đất tranh chấp và văn bản này cũng không được công chứng, chứng thực và sau khi lập biên bản này các chưa được ông H, ông D và các bà Hà Thị N, bà Hà Thị B, bà Hà Thị H1 thực hiện đến nay có tranh chấp.
Ông Hà Đức H, ông Hà Đức D và các bà Hà Thị N, bà Hà Thị H1, bà Hà Thị B quá trình giải quyết vụ án không tranh chấp về di sản thừa kế, lý do ông H yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với lý do đã được các cụ Hà Đức M và cụ Nguyễn Thị B1 tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp.
Từ các cơ sở trên, Hội đồng xét xử nhận định ông Hà Đức H khởi kiện yêu cầu công nhận có quyền sử dụng đất, yêu cầu bà Hà Thị H1 trả lại thửa đất tranh chấp với lý do đã được cụ Hà Đức M và Nguyễn Thị B1 tặng cho là không có cơ sở.
Về yêu cầu khởi kiện về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Xét thấy các đương sự đều xác nhận về vị trí thửa đất tại thời điểm năm 2002 về tứ cận tiếp giáp đều phù hợp với sơ đồ hiện trạng thửa đất có trong hồ sơ cấp đất, tại thời điểm đó chưa có bản đồ nên thửa đất xác định là thửa đất không số, không có tờ bản đồ
với diện tích 183m², căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định theo Bản đồ địa chính năm 2014 thuộc thửa đất số 105 tờ bản đồ số 53.
Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 354261 – ngày 09/4/2023 có đầy đủ đơn xin cấp đối với thửa đất, được xét duyệt đầy đủ theo quy định và có quyết định của UBND huyện C về việc cấp đất, thửa đất không có tranh chấp, nguồn gốc kê khai rõ ràng, UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định pháp luật, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng V354261 – ngày 09/4/2023 của UBND huyện C cấp cho hộ bà Hà Thị H1 đối với thửa đất không số, không có tờ bản đồ.
[4].Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
căn cứ Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự: do ông Hà Đức H không được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên ông Hà Đức H phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền: 10.600.000 đ (mười triệu sáu trăm nghìn đồng),
[5].Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự: ông Hà Đức H phải chịu án phí vụ kiện với số tiền: 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí với số tiền: 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0000087 – ngày 30/10/2023 (do ông Hà Đức D nộp thay) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới
Vì các lý lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 101, 166 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2014 và Điều 50 của Luật đất đai năm 2003 và các điều 26, 34 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 32 của Luật tố tụng hành chính và các Điều 157 và Điều 165; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự vvà Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
1.Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Hà Đức H
về việc công nhận có quyền sử dụng đất và yêu cầu bà Hà Thị H1 trả lại thửa đất có diện tích 173,7m² thuộc thửa đất số 105 tờ bản đồ số 53 được giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-1 (theo bản đồ đo đạc chỉnh lý năm 2014), địa chỉ thửa đất tại thôn B (nay là thôn H), xã T, huyện C, tỉnh Bn.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Đức H hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V354261 – ngày 09/4/2023 của UBND huyện C cấp cho bà Hà Thị H1 đối với thửa đất không số, không có tờ bản đồ.
(có bản trích đo thửa đất kèm theo).
2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Ông Hà Đức H phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền: 10.600.000 đ (mười triệu sáu trăm nghìn đồng). Ghi nhận ông Hà Đức H đã nộp toàn bộ đầy đủ chi phí tố tụng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Hà Đức H phải chịu án phí vụ kiện với số tiền: 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí với số tiền: 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0000087 – ngày 30/10/2023 (do ông Hà Đức D nộp thay) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại cá điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Đương sự có mặt tại phiên toà quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
|
Các hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Hoàng Hữu Truyền |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
- - Các đương sự;
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp ĐS
- - Cục Thi hành án DS tỉnh Bắc Kạn;
- - Chi cục Thi hành án DS huyện Chợ Mới
- - Lưu tổ HCTP, hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Hoàng Hữu Truyền |
|
Các hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
Vi Thanh C5 – C6
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Hà Huy H và bà Hà Thị H có tranh chấp đất do cha ông để lại,
