TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/DS-ST Ngày: 21/3/2025 |
V/v “tranh chấp kiện đòi nợ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM – TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Xuân.
- Bà Lê Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên: Bà Trịnh Thị Oanh – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 44/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 2 năm 2023 về “Tranh chấp kiện đòi nợ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Đức T, sinh năm 1944.
Địa chỉ: Số nhà B, ngõ G, phố V, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương, có mặt.
Bị đơn: Ông Tạ Chí T1 (T2), sinh năm 1973.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số C, ngõ G P, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương, có mặt.
- - Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên, có mặt.
Người làm chứng:
- - Ông Nguyễn Doãn T3, sinh năm 1977.
- Địa chỉ: Khu D, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Đức Q, sinh năm 1967.
- Địa chỉ: A, A, thị xã K, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại cơ quan công an xã C và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Vào thời gian năm 2020, ông Lê Đức T (sinh năm 1944, địa chỉ: Số nhà B, ngõ G, phố V, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương) có giao cho ông Tạ Chí T1 (sinh năm 1973, địa chỉ: thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên) một số hàng than quặng qua lửa. Sau khi ông T1 không có nhu cầu nhập hàng nữa, ngày 29/3/2022, ông T và ông T1 đã quyết toán số tiền ông T1 còn nợ ông T là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), ông T1 đã tự tay viết giấy ký nhận nợ trong sổ ông T. Đến khoảng tháng 6/2022, ông T1 có hai lần chuyển khoản tổng 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) trả cho ông T. Như vậy, ông T1 còn nợ ông T số tiền là 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng).
Ngày 31/8/2022, ông T1 gọi ông T lên nhà nhà ông T1 tại thôn Đ, xã C, huyện V, Hưng Yên để trả nốt số tiền còn lại. Khoảng 9 giờ 30 phút, ông T đi taxi đến nhà ông T1. Tại đây, có mặt ông Tạ Chí T1, ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T4 (cháu anh S), hai nam thành niên không biết tên tuổi, sau biết là Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Đức Q. Ông T1 bảo ông T ký vào sổ đã nhận đủ số tiền còn nợ để ông trả tiền. Do chỗ thân quen nên ông T đã ký nhận vào sổ của ông T1. Sau đó ông T1 không trả tiền còn tự tay ghi vào sổ với nội dung: Tôi đã thanh toán xong số tiền hàng từ trước đến nay, ký tên Tạ Chí T1 và nói với ông T đã nhận đủ tiền.
Cùng ngày, ông T có đơn trình báo Cơ quan Công an xã C, huyện V về việc ông bị cướp tiền tại nhà ông T1 ở thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Công an xã đã tiến hành giải quyết theo pháp luật, mời các bên liên quan, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, kết luận vụ việc không có dấu hiệu hình sự. Ông T làm đơn khởi kiện ra Tòa án, đề nghị Tòa án buộc ông Tạ Chí T1 trả 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng) tiền nợ ông.
Về việc làm ăn chung giữa ông T và ông S, ông T xác định số tiền bán than cho anh T1 là vốn làm ăn của ông, ông S không góp vốn một đồng trong đó, chỉ có làm trên đất của ông S thì ông S nói là ông cho bao nhiêu thì cho. Trước đây hằng năm vào dịp cuối năm ông lên nhà ông T1 chốt công nọ, ông S đi cùng ông như chỉ đi chơi cùng. Ông T1 mua hàng và ký vào giấy nhận nợ của ông T nên ông T1 nợ tiền ông chứ không nợ tiền ông S.
2. Bị đơn ông Tạ Chí T1 trình bày: Năm 2013, ông Đ là bố anh K giới thiệu ông S cho ông để cung cấp than. Ông S giới thiệu ông T cung cấp than cho ông. Trước đó ông T1 không biết ông T là ai, chỉ biết ông S làm ăn chung với ông T. Quá trình mua than từ 2013 đến 2021, ông chỉ giao dịch tại nhà ông S. Do chất lượng than kém nên ông không mua than của ông S và ông T nữa. Ngày 29/3/2022 chốt công nợ ông T1 nợ ông T, ông S 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Sau đó, ông có chuyển khoản 02 lần, trả ông T tổng 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Ngày 31/8/2022, ông gọi cả ông S và ông T đến nhà ông trả nợ, ông muốn có cả mọi người vì trước đó ông S nói với ông là ông T không thanh toán gì cho ông S cả. Sau khi ông S và ông T ký vào giấy nhận tiền, ông để tiền ra bàn thì ông T, ông S tranh nhau. Lúc đó anh K cầm tiền với lý do ông Đ là bố anh K chưa được tiền hoa hồng. Bị đơn xác định bị đơn nợ tiền ông S và ông T và đã trả đủ 280.000.000 đồng tiền mua than cho hai ông.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc K trình bày: Bố anh K là ông Đ đã mất năm 2020. Năm 2022, ông T1 trả tiền cho ông S và ông T, anh K cũng có mặt ở đó. Khi ông T1 đặt tiền ra bàn, ông S và ông T tranh nhau tiền. Vì bố anh K cũng có công hoa hồng trong đó nên anh K cầm về. Sau đó anh về nhà giao tiền cho ông S, ông S ký vào giấy tại nhà anh K với nội dung ông đã nhận 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng) và bảo ông S về K, Hải Dương giải quyết với ông T.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S trình bày: Năm 2013, ông T và ông S hùn vốn với nhau để buôn than, địa điểm kinh doanh tại nhà ông. Ông Đ là người quen của ông S có giới thiệu ông T1 đến mua than, có thỏa thuận trích phần trăm cho ông Đ. Còn ông S và ông T1 thỏa thuận chia nhau 50/50 tiền lãi. Các thỏa thuận đều là thỏa thuận miệng không có văn bản giấy tờ. Việc kinh doanh cũng không lập thành công ty, không đăng ký kinh doanh. Trong quá trình làm ăn, ông S nhận thấy ông T làm ăn mập mờ, không thanh toán tiền lãi cho ông. Hai ông xảy ra mâu thuẫn đến năm 2020 thì ông S và ông T không làm ăn với nhau nữa. Ngày 31/8/2022, ông T1 gọi ông T và ông S đến nhà ông T1 để thanh toán tiền hàng còn nợ. Trên đường đi, ông S có gọi cho anh Nguyễn Ngọc K là con trai ông Nguyễn Tất Đ lên nhà ông T1. Về số tiền hàng ông T1 nợ năm 2019 là 590.000.000 đồng (năm trăm chín mươi triệu), lúc này ông mới biết là ông T1 chỉ còn nợ 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu), vì ông T đã lấy dần nhưng không nói gì với ông. Sau khi kí giấy nhận nợ, ông T1 mang tiền ra. Lúc này ông S và ông T xảy ra tranh cãi, anh K cầm đi. Ông S cũng yêu cầu anh K là người cầm tiền. Sau đó anh K đã giao lại cho ông đủ số tiền 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng) và ông hiện đang quản lý số tiền này, ông S đề nghị nếu ông T khởi kiện thì về thị xã K, Hải Dương giải quyết, hiện nay công nợ giữa ông và ông T hai bên còn khoảng trên 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng) chưa giải quyết dứt điểm.
5. Người làm chứng anh Nguyễn Đức Q trình bày tại biên bản lấy lời khai của Công an xã C: Ngày 31/8/2022, anh có đi cùng ông S là người quen đến nhà ông T1 để thanh toán tiền nợ. Tại đây đã có mặt ông T từ trước. Ông T1, ông S, ông T viết giấy nhận tiền, nội dung giao nhận cụ thể như thế nào anh không biết. Sau đó ông T1 có nói bàn giao 280.000.000 đồng cho ông T và ông S. Ông T, ông S xảy ra tranh cãi, lúc đó anh K đi vào nói trong số tiền này có cả tiền hoa hồng của bố anh. Ông S nói là để anh K cầm trung gian trong lúc ông S và ông T giải quyết, thế là ông T1 đưa túi tiền cho K cầm về. Ông T thấy vậy thì đi ra cửa và nói là bị cướp tiền và điện thoại báo Công an. Sau đó ông S đi sang chào nhà anh K rồi đi về.
6. Người làm chứng anh Nguyễn Doãn T3 trình bày tại biên bản lấy lời khai của Công an xã C: Anh T3 làm nghề lái xe taxi. Ngày 31/8/2022, anh có nhận chở một khách là ông T đi từ Hải Dương lên Hưng Yên. Tại chủ nhà ở Hưng Yên, anh còn thấy một nhóm bốn người khác đến sau. Ông chủ nhà cùng ông T trao đổi tiền bạc rồi bảo ông T viết sổ để ký nhận tiền, sau đó mang tiền ra định đưa cho ông T thì bị nhóm 04 người trên định giật tiền. Giữa ông T và nhóm người đó xảy ra tranh cãi.
Anh T3 thấy vậy thì dứng dậy ra ngoài. Khoảng 5-7 phút sau nhóm 04 người đi ra và lên xe ô tô bỏ đi, còn ông T gọi điện cho ai đó và nói đi trình báo công an.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do các đương sự không tiến hành hòa giải được, phải đưa vụ án ra xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 274, Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T khởi kiện đòi ông Tạ Chí T1 số tiền 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng).
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lê Đức T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Lê Đức T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp kiện đòi nợ, yêu cầu của ông thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Tạ Chí T1 hiện đang có nơi thường trú tại thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đề nghị Công an xã C, huyện V cung cấp các tài liệu Công an xã đã thu thập mới có căn cứ giải quyết vụ án, nên phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Sau khi lý do tạm đình chỉ không còn, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung: Về quan hệ làm ăn giữa ông T và ông S: Ông Lê Đức T và ông Nguyễn Văn S có quan hệ làm ăn chung từ năm 2013. Khi đó ông T và ông S có thỏa thuận góp vốn với nhau để buôn than. Hoạt động kinh doanh không thành lập công ty, không đăng ký kinh doanh. Do có quan hệ quen biết từ trước nên hai ông không lập hợp đồng văn bản mà chỉ có thỏa thuận miệng với nhau về nội dung công việc, thanh toán, phân chia lợi nhuận. Dựa trên các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, biên bản lời khai tại cơ quan Công an xã C, lời khai của các các đương sự tại phiên tòa ngày hôm nay và giấy nợ ông S nộp tại phiên tòa có cơ sở xác định có việc làm ăn chung giữa ông T và ông S trong thực tế.
Về quan hệ làm ăn giữa ông T, ông S với anh T1: Cả ông T1 và ông S đều thừa nhận ông T1 mua than từ ông T và ông S. Ông Đ là người giới thiệu ông S cung cấp than cho anh T1. Sau đó ông S đã đưa ông T đến giới thiệu cho ông T1. Ban đầu khi mới mua bán ông T1 không biết ông T là ai, chỉ biết ông T và ông S làm ăn chung. Việc mua bán giữa hai bên không lập thành văn bản. Quá trình mua than từ năm 2013 đến năm 2021, ông T1 chỉ giao dịch tại nhà ông S, như vậy ông sáng là người góp vốn chung bằng cách sử dụng tài sản cá nhân là nhà đất của ông để kinh doanh chung. Cứ mỗi cuối năm, cả ông T và ông S đều lên nhà ông T1 để thanh toán tiền hàng. Mặt khác, ông S và ông T kinh doanh chung từ năm 2013 đến năm 2020. Theo lời khai của ông S, trong thời gian này, ông S đã góp 37.000.000 đồng tiền vốn và tạm ứng 614.051.000 đồng tiền tạm ứng cá nhân để trả tiền hàng cho hoạt đông kinh doanh chung, vừa là người cho thuê bến bãi, làm bảo vệ ở đây. Tuy nhiên từ năm 2013 đến nay thì nhiều lần ông T không thanh toán tiền lãi cho ông S, chỉ có một số lần ông Thu thanh T5 cho ông S thì có ghi trong sổ. Tại giấy nợ ông S nộp bổ sung tại phiên tòa ngày hôm nay đã ghi nhận việc chậm thanh toán tiền lãi giữa ông S, ông T trong giai đoạn 2015-2018. Hội đồng xét xử nhận định có đủ căn cứ chứng minh đóng góp của ông S trong hoạt động cung cấp than giữa ông T, ông S với anh T1.
Về khoản nợ của ông T1: Giấy chốt công nợ 300.000.000 đồng lập ngày 29/3/2022 chỉ có chữ ký của ông T và ông T1 nhưng do ông T và ông S làm ăn chung nên số tiền ông T1 nợ là của cả ông S và ông T. Xét thấy giữa anh T1 và ông T, ông S không thực hiện việc kí kết hợp đồng nhưng giữa hai bên đã tự nguyện thỏa thuận miệng về công việc, giá trị của hợp đồng. Hội đồng xét xử thấy sự thỏa thuận này không trái quy định pháp luật. Ngày 31/8/2022, cả ông T và ông S đều đã ký giấy nhận tiền và có người làm chứng. Khi ông T1 đưa tiền, do có mâu thuẫn từ trước nên xảy ra tranh chấp giữa ông T và ông S về việc ai là người cầm tiền.
Do đó, có cơ sở xác định ông T1 đã trả khoản tiền 280.000.000 đồng cho ông T và ông S. Việc ông S cầm tiền là tranh chấp giữa hai ông chứ không liên quan đến ông T1. Hiện nay ông S đang là người quản lý số tiền 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng), nên nếu có yêu cầu thì ông T trao đổi ông S để giải quyết công nợ, nến hai bên không trao đổi được thì ông T có quyền khởi kiện ông S theo quy định của pháp luật.
[3] Về việc ông T cho rằng mình bị lừa cướp tiền tại nhà ông T1 ở địa chỉ thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên: Trước thời điểm nộp đơn khởi kiện ra tòa, ông T đã có đơn trình báo Cơ quan Công an xã C, huyện V. Công an xã đã tiến hành giải quyết theo pháp luật, mời các bên liên quan, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, kết luận vụ việc không có dấu hiệu hình sự là phù hợp pháp luật.
[4]. Về án phí: Ông T là người cao tuổi, căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, ông T thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 274, Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T khởi kiện đòi ông Tạ Chí T1 số tiền 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng).
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lê Đức T.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Mười |
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp kiện đòi nợ
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi nợ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Tranh chấp kiện đòi tiền
