Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI CHÂU

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/DS - ST

Ngày: 10/3/2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lường Thị Thảo và bà Trần Thanh Hòa.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Thế Anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên tòa: Ông Mai Thanh Bách – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 Năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 04/2024/TLST- DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST – DS ngày 24 tháng 01 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QÐST-DS ngày 20 tháng 2 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần M viết tắt( JUPITER); Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, TP Hà Nội.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng là ông Lê Trung A, theo văn bản ủy quyền số : 136090/2024/UQ-XLN-JUPITER ngày 02/7/2024.

Các bị đơn: - Anh Nguyễn Hồng V, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Xóm T, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Xóm T, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngày 19/11/2020 ông Nguyễn Hồng V và bà Nguyễn Thị Thu T đã tự nguyện thỏa thuận, ký Hợp đồng tín dụng số: LN2011133017188 với Ngân hàng thương mại cổ phần V1 có Chi nhánh tại Hòa Bình. Số tiền vay: 1.015.000.000 đồng (một tỷ không trăm mười lăm triệu đồng) dùng để trả tiền mua xe ô tô; Thời hạn vay: 84 tháng; định kỳ trả nợ vào ngày 15 hàng tháng phải trả gốc là 12.084.000 đồng cùng lãi suất vào thời điểm vay: 9%/năm được cố định trong vòng 12 tháng. Sau đó lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/1 lần, lãi suất điều chỉnh dành cho khách hàng vay có kỳ hạn 84 tháng được Ngân hàng công bố tại thời điểm điều chỉnh là lãi suất cơ sở VNĐ cộng biên độ 4,4%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả nhưng tối đa không quá 10% năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Ngày 19/11/2020 anh Nguyễn Hồng V, chị Nguyễn Thị Thu T cùng Ngân hàng V2 thỏa thuận lập hợp đồng Thế chấp số 5177 tại Phòng công chứng số A tỉnh Hòa Bình. Thế chấp xe ô tô nhãn hiệu Vinfat Lux 2.0; BKS 28A-113.80 mang tên Nguyễn Hồng V cho Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh V và chị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 6 Điều 2 của hợp đồng tín dụng kể từ ngày 15/3/2022 nên ngân hàng V2 đã chuyển khoản vay của anh V và chị T sang nợ quá hạn từ ngày 15/3/2022.

Ngày 30/6/2023 Ngân hàng V2 bán khoản nợ của anh V và chị T cho Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 (G) theo Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/6/2023/GLX-VPB. Theo đó, Công ty M1 mua khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng cho vay mà anh V và chị T đã ký kết với V2. Ngày 20/11/2023 Công ty M1 làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án huyện M yêu cầu Tòa án buộc anh V và chị T trả toàn bộ số tiền nợ mà Công ty M1 đã mua lại, cụ thể số tiền tạm tính đến hết ngày 10/11/2023 nợ gốc là 832.400.388 đồng, nợ lãi là 284.113.069 đồng. Do anh V đang phải chấp hành án và chị T không có mặt tại nơi cư trú nên Công ty đã tạm dừng khởi kiện, đến ngày 10/7/2024 Tòa án nhân dân huyện Mai Châu đã thụ lý và tiến hành giải quyết vụ kiện.

Ngày 12/7/2024 Công ty M1 đã bán lại khoản nợ trên cho công ty cổ phẩn MBN Jupiter theo hợp đồng số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER. Theo đó công ty M kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của công ty M1. Vì vậy, Công ty Cổ phần M yêu cầu Tòa án buộc anh V và chị T trả toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tạm tính đến hết ngày 21/11/2024 là 1.405.737.436 đồng trong đó nợ gốc 832.400.388 đồng, nợ lãi là 573.337.048 đồng. Yêu cầu Tòa án tuyên kể từ ngày 22/11/2024 tiếp tục tính lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng vay cho đến ngày anh V và chị T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp anh V và chị T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty M có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Công ty. Sau khi số tiền bán phát mại tài sản thế chấp mà không đủ thanh toán số nợ trên thì anh V và chị T phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty M theo hợp đồng cho vay số: LN2011133017188 ngày 19/11/2020.

* Tại biên bản tự khai ngày 11/7/2024 và ngày 20/12/2024 Bị đơn là anh V trình bày: Vào năm 2020 anh V và chị Nguyễn Thị Thu T có mua một chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfat Lux 2.0, BKS 28A-113.80, nhưng không đủ tiền nên anh chị đến ngân hàng V2 vay số tiền là 1.015.000.000 đồng để trả tiền mua ô tô và thế chấp bằng Quyền sở hữu chiếc xe ô tô Vinfat Lux 2.0, BKS 28A-113.80. Hợp đồng đã thực hiện được một thời gian thì anh Nguyễn Hồng V vi phạm pháp luật, phải đi chấp hành án tại Trại giam T1 (C - Thanh Hóa) chiếc xe ô tô đã giao lại cho vợ là Nguyễn Thị Thu T quản lý sử dụng và tiếp tục thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng. Sau khi chấp hành án xong trở về nhà thì chị Nguyễn Thị Thu T đã mang cả xe ô tô đi đâu không rõ tung tích. Anh Nguyễn Hồng V xác nhận số tiền còn nợ công ty M thông qua hợp đồng cho vay số: LN2011133017188 ngày 19/11/2020, tạm tính đến hết ngày 21/11/2024 số tiền là 1.405.737.436 đồng, trong đó nợ gốc là 832.400.388 đồng, nợ lãi là 573.337.048 đồng.

* Tại bản tự khai ngày 11/7/2024 chị Nguyễn Thị Thu T trình bày: vào năm 2020 chị T và anh V có mua chiếc ô tô nhãn hiệu Vinfat Lux 2.0, BKS 28A-113.80 vì không đủ tiền nên chị và anh V có vay ngân hàng V2 số tiền là 1.015.000.000 đồng và thế chấp bằng chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfat Lux 2.0, BKS 28A-113.80 mang tên Nguyễn Hồng V. Mục đích vay là để trả tiền mua chiếc xe trên, chị T cũng xác nhận còn vay nợ Công ty M1, theo Hợp đồng cho vay số: LN2011133017188 ngày 19/11/2020 số tiền tạm tính đến ngày 10/11/2023 là 1.116.13.457 đồng, trong đó nợ gốc là 832.400.388 đồng, nợ lãi là 284.113.069 đồng.

Quá trình giải quyết vụ kiện chị Nguyễn Thị Thu T thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú nên Tòa án đã phối hợp cùng UBND xã V thực hiện thủ tục niêm yết theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ kiện theo thủ tục chung.

Ngày 16/10/2024 Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ keetsquar giải quyết của Công an huyện M, theo đơn của anh Nguyễn Hồng V. Ngày 12/11/2024 Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình hỏi đã tuân theo đúng quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm nên không có yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Những người tham gia tố tụng nguyên đơn và anh Nguyễn Hồng V có mặt, Bị đơn chị Nguyễn Thị Thu T vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Mai Châu tiến hành thủ tục cấp tống đạt, thu thập chứng cứ, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Thu T vắng mặt lần 02 không có lý do nên tòa án đã áp dụng khoản 2 Điều 227 và khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vụ kiện.

- Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 117, 119, 299, 463, 466 Bộ luật dân sự và các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M. Buộc anh V và chị T phải trả cho Công ty Cổ phần M theo hợp đồng cho vay số: LN2011133017188 ngày 19/11/2020 của Ngân hàng V2 có Chi nhánh tại Hòa Bình. Số tiền tạm tính đến hết ngày 21/11/2024 là 1.405.737.436 đồng, trong đó nợ gốc là 832.400.388 đồng, nợ lãi là 573.337.048 đồng. Trường hợp anh V và chị T không trả hoặc trả không đầy đủ, nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đảm bảo là chiếc xe ô tô hiệu Vinfat Lux 2.0, BKS 28A-113.80 mang tên Nguyễn Hồng V đã được thế chấp tại ngân hàng.

Kể từ ngày 22/11/2024, anh V và chị T còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi theo lãi suất mà bên đã thỏa thuận trong hợp đồng vay cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Về án phí vụ án: anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Chủ thể tham gia tố tụng tại tòa án: Ngày 30/6/2023 Ngân hàng V2 bán khoản nợ của anh V và chị T cho Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 (M1), tòa án đã thụ lý giải quyết ngày 10/7/2024. Đến ngày 12/7/2024 Công ty M1 đã bán khoản nợ trên cho công ty cổ phẩn MBN Jupiter theo hợp đồng số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER. Công ty M kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của công ty M1 và tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn yêu cầu giải quyết toàn bộ nội dung theo hợp đồng cho vay số: LN2011133017188 ngày 19/11/2020 của Ngân hàng V2 là đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thời hạn giải quyết vụ kiện : Ngày 10/7/2024 Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện, anh Nguyễn Hồng V có đơn đề nghị Công an xem xét việc chị Nguyễn Thị Thu T có hành vi tẩu tán tài sản thế chấp. Ngày 16/10/2024 Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ lý do “ Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan theo quy định của pháp luật”. Ngày 12/11/2024 Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ kiện.

[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1và khoản 3 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hồng V vắng mặt lần 02 không có lý do . Tòa án tiến hành xét xử vụ kiện là phù hợp với khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Xét về yêu cầu của Công ty Cổ phần M về việc buộc anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T phải thanh toán khoản nợ theo hợp đồng số: LN2011133017188 ngày 19/11/2020, số tiền tạm tính đến hết ngày 21/11/2024 là 1.405.737.436 đồng, trong đó nợ gốc là 832.400.388 đồng, nợ lãi là 573.337.048 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hợp đồng tín dụng số LN2011133017188 ngày 19/11/2020 giữa ngân hàng V2 với anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại các Điều 463,466 của Bộ luật dân sự. Kể từ ngày 15/3/2022 cho đến nay anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay về trả nợ gốc và lãi được quy định tại khoản 6 Điều 2 của hợp đồng cho vay.

Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay, anh V và chị T đã thanh toán tiền cho Ngân hàng V3 kể từ ngày 15/12/2020 đến ngày 11/3/2022 cụ thể số tiền gốc là : 157.181.237đồng, tiền lãi là: 95.734.152đồng. Tuy nhiên, từ ngày 15/3/2022 anh V và chị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng nên Ngân hàng V2 đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn. Ngày 29/4/2022 và ngày 16/5/2022 anh V và chị T đã tiếp tục trả cho Ngân hàng V2 số tiền gốc là : 25.418.374 đồng và lãi quá hạn là 24.509.026 đồng. Quá trình giải quyết vụ kiện anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T xác nhận còn nợ ngân hàng V2 số tiền gốc là 832.400.388 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 20/11/2023 là 284.113069 đồng, nếu tạm tính đến ngày 21/11/2024 thì tiền lãi sẽ là 573.337.048 đồng, hiện nay anh chị không có khả năng thanh toán nên đề nghị xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Vì vậy căn cứ vào Điều 463 và 466 Bộ luật dân sự; Các Điều 91, 95, khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu của Công ty M. Buộc anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T phải thanh toán trả nợ cho Công ty M số tiền nợ gốc là 832.400.388 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 21/11/2024 là 573.337.048 đồng . Kể từ ngày 22/11/2024 anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T phải tiếp tục trả nợ lãi, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số: LN2011133017188 ngày 19/11/2020 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Công ty M.

Về tài sản thế chấp khoản vay: Ngân hàng V2 và anh Nguyễn Hồng V, chị Nguyễn Thị Thu T đã xác lập tại hợp đồng thế chấp số 5177 tại Phòng công chứng số 01 tỉnh Hòa Bình ngày 19/11/2020 là xe ô tô BKS BKS 28A-113.80 mang tên Nguyễn Hồng V là hoàn toàn tự nguyện đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Tài sản này để bảo đảm cho khoản tiền vay được ghi trong Điều 3 của hợp đồng cho vay, nếu anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Công ty M có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Điều 7 và Điều 8 của hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Căn cứ vào các Điều 117,119 và 299 Bộ luật dân sự.

[5]. Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; Điều 35; khoản 4 Điều 74; Điều 147; khoản 1 Điều 227 và khoản 3 điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều: 117, 119, 299, 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015; Các Điều 91, 95, khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty Cổ phần M đối với anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T.
  2. Buộc anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T phải trả cho Công ty Cổ phần M tổng số tiền tính đến ngày 21/11/2024 là 1.405.737.436 đồng (một tỉ, bốn trăm linh năm triệu, bẩy trăm ba mươi bẩy nghìn, bốn trăm ba mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc: là 832.400.388 đồng, nợ lãi là 573.337.048 đồng.
  3. Kể từ ngày 22/11/2024, anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T phải tiếp tục thực hiện tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng cho vay số LN2011133017188 ngày 19/11/2020 cho Công ty Cổ phần M cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ, tất toán khoản vay. Trường hợp anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T thực hiện trả toàn bộ các khoản nợ của hợp đồng cho vay số LN2011133017188 ngày 19/11/2020 thì Công ty Cổ phần M có trách nhiệm giải chấp tài sản đảm bảo, trả lại Xe ô tô hiệu Vinfat Lux 2.0, BKS 28A-113.80 cho anh V và chị T.
  4. Khi án có hiệu lực thi hành, nếu anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì Công ty Cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: Xe ô tô hiệu Vinfat Lux 2.0, BKS 28A-113.80 mang tên Nguyễn Hồng V, số khung RPXAB2RXGLV000996, số máy 200450025VF20SUV theo hợp đồng thế chấp số 5177 tại Phòng công chứng số 01 tỉnh Hòa Bình ngày 19/11/2020, để thu hồi toàn bộ khoản nợ đã vay. Trường hợp số tiền xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T phải tiếp tục thực hiện toàn bộ nghĩa vụ còn nợ cho Công ty Cổ phần M.
  5. Về án phí: anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 54.172.100 đồng. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.747.700 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003663, ngày 10/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  6. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong cùng thời hạn kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội Thẩm nhân dân

Lường Thị Thảo

Trần Thanh Hòa

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hồng Hưng

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - VKSND huyện MC;
  • - THA dân sự;
  • - Các đương sự ;
  • - Lưu hồ sơ
  • - Lưu cặp án
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/DS - ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 04/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty J đối với anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T Buộc anh Nguyễn Hồng V và chị Nguyễn Thị Thu T phải trả cho Công ty J số tiền đã vay theo hợp đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger