TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/DS-ST
Ngày: 23/01/2025
Về tranh chấp lối đi chung và yêu
cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng, bà Nguyễn Thị Bích Liên.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quyên- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 33/2024/TLST-DS ngày 25/4/2024 về tranh chấp lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-DS ngày 17/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-DS ngày 08/01/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1979 và chị Bùi Thị L, sinh năm 1979.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị L: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1979.
- Địa chỉ: Thôn C, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- - Bị đơn: Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1961 và bà Phan Thị D, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn C, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ, bà D: Anh Bùi Văn Đ1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + UBND thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn H1- Chủ tịch UBND thành phố C.
- + UBND xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H2- Chủ tịch UBND xã N.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông H2: Bà Nguyễn Thị M- Công chức Địa chính xã N.
- + Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn C, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- + Anh Bùi Văn C, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn C, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- + Chị Bùi Thị T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- + Chị Bùi Thị C1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khu T, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa có mặt anh H, ông Đ, bà D, ông V, anh C, chị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn là anh Bùi Văn H, chị Bùi Thị L trình bày: Năm 2005, anh chị nhận chuyển nhượng của ông Bùi Văn T1 các thửa đất số 305, số 322, tờ bản đồ số 02 tại thôn C, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương và được UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: GCN QSDĐ) ngày 12/12/2008. Từ năm 2005 đến nay, thửa đất số 305 và số 322 có lối đi vào duy nhất được kết nối từ đường trục chính của thôn vào đến thửa đất số 306 của ông Nguyễn Văn V; vị trí lối đi nằm ở giữa các thửa đất số 321, số 330 của nhà ông Bùi Văn Đ với thửa đất số 329 của nhà ông Bùi Văn X và các thửa đất số 305, số 322 của anh chị; chiều rộng lối đi là 02m. Cùng sử dụng lối đi này có anh chị, ông V và gia đình ông Đ. Năm 2005, UBND xã N tiến hành đổ bê tông đường thôn, đường xóm chính. Các lối đi nhỏ thì không có kinh phí để đổ bê tông nên anh chị cùng ông V, ông Đ đã đóng góp mỗi nhà 2.000.000đ và được nhà nước cho xi măng để đổ bê tông lối đi giữa các nhà. Nay vợ chồng ông Đ cho rằng lối đi chung nằm trong GCN QSDĐ của nhà ông Đ và không cho người khác sử dụng lối đi này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng đất của anh chị. Vì vậy anh chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- - Buộc vợ chồng ông Bùi Văn Đ, bà Phan Thị D phải trả lại diện tích lối đi chung có chiều rộng 02m, chiều dài 35m.
- - Hủy GCN QSDĐ do UBND thành phố C cấp ngày 26/11/1999 đứng tên ông Bùi Văn Đ đối với các thửa đất số 321, 330 tại thôn C, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Quá trình làm việc với Tòa án, bị đơn là ông Bùi Văn Đ và bà Phan Thị D trình bày: Ông bà trực tiếp quản lý, sử dụng các thửa đất số 321 và số 330, tờ bản đồ số 02 tại thôn C, xã N, thành phố C từ năm 1980 cho tới nay. Ngày 20/11/1999, UBND thành phố C cấp GCN QSDĐ số O 874870, số vào sổ cấp GCN 0218 QSDĐ đối với thửa đất số 321 có diện tích 441m2 (gồm 300m2 đất ở và 141m2 đất vườn thừa hợp pháp) và thửa đất số 330 có diện tích 322m2 đất nuôi trồng thủy sản đứng tên ông Bùi Văn Đ.
Thời điểm năm 1980 thì thửa đất số 321, số 330 và các thửa đất liền kề của nhà bà Bùi Thị P, ông Bùi Văn X, ông Bùi Văn T1, ông Bùi Văn Q đều là đất ruộng, được ngăn cách bởi các bờ ruộng rộng khoảng 40cm nhưng không có ai đi lại bằng bờ ruộng xung quanh các thửa đất của ông bà. Năm 1985, ông bà xây nhà và trực tiếp sinh sống tại các thửa đất số 321, số 330 nên đã cải tạo bờ ruộng giáp đất bà P thành lối đi có chiều rộng khoảng 0,5m, chiều dài từ đường thôn đến giáp đất ông Q. Sau đó thấy lối đi này thuận lợi nên nhà ông Q, nhà ông T1 đi nhờ lối đi này của ông bà.
Khoảng năm 1994, nhà bà P đào ao làm lở lối đi nên ông bà đã cải tạo bờ ruộng giáp đất nhà ông X, ông T1 thành lối đi có chiều rộng từ 01m đến 1,2m và kéo dài từ đường thôn đến thửa đất số 321. Sau này nhà ông Q, nhà ông T1 đi nhờ trên lối đi này dẫn đến lối đi kéo dài từ đường thôn đến giáp đất nhà ông Q. Toàn bộ lối đi này nằm trong đất nhà ông bà. Sau khi ông Q chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn V; ông T1 chuyển nhượng đất cho anh Bùi Văn H, chị Bùi Thị L thì ông V, anh H, chị L cũng đi nhờ lối đi của ông bà để vào đất của họ. Khoảng năm 2006, địa phương làm đường bê tông, nguồn tiền được trích từ quỹ ruộng của các hộ gia đình nên lối đi của ông bà cũng được đổ bê tông. Đối với phần lối đi giáp đất bà P đã bị lở thì ông bà sử dụng để trồng hoa màu, xây dựng chuồng trại chăn nuôi và đã xây tường ngăn cách với đất của nhà bà P.
Ngày 12/12/2008, UBND thành phố C cấp GCN QSDĐ đứng tên anh H, chị L đối với thửa đất số 305 và số 322 thể hiện các thửa đất này giáp đường xóm rộng 2m là không đúng vì toàn bộ diện tích đường xóm này nằm trong diện tích đất nhà ông bà. Vì vậy ông bà không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án hủy các GCN QSDĐ đứng tên anh H, chị L đối với thửa đất số 305 và số 322. Trường hợp bắt buộc phải lấy đất nhà ông bà để mở lối đi cho nhà anh H, chị L, nhà ông V thì ông bà chỉ đồng ý mở lối đi có chiều rộng 2m, chiều dài kéo dài từ đường xóm đến đất nhà ông V và toàn bộ đất cắt ra làm lối đi là đất vườn. Tổng diện tích đất làm lối đi sẽ nhân với giá 2.000.000đ/m2, cộng với chi phí làm lại GCN QSDĐ và chia đều cho ba nhà, mỗi nhà phải chịu một phần chi phí như nhau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm:
Ông Nguyễn Văn V trình bày: Ông nhận chuyển nhượng thửa đất số 306, tờ bản đồ số 2 ở thôn C, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương của ông Bùi Văn Q từ năm 2000 nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sử dụng đất. Từ năm 2000 cho tới nay chỉ có một lối đi duy nhất để đi vào thửa đất số 306 được kết nối từ đường trục chính của thôn đến thửa đất số 306; vị trí lối đi nằm ở giữa các thửa đất của nhà ông Đ với nhà ông X và nhà ông T1 (nay nhà anh H, chị L). Năm 2005, ông cùng nhà anh H, nhà ông Đ đóng góp khoảng 2.000.000đ/1 nhà và được địa phương hỗ trợ xi măng để tiến hành đổ bê tông lối đi. Ngoài lối đi này thì hiện thửa đất số 306 không có lối đi vào nào khác. Vì vậy ông đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Anh Bùi Văn C, chị Bùi Thị T, chị Bùi Thị C1 trình bày thống nhất với bị đơn về nguồn gốc, quá trình sử dụng phần lối đi tranh chấp và xác định phần diện tích đất các bên đang tranh chấp đã được nhà nước cấp GCN QSDĐ đứng tên ông Đ và thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông Đ. Vì vậy các anh chị không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Đ về việc hủy các GCN QSDĐ do UBND thành phố C cấp ngày 12/12/2008 đứng tên anh H, chị L đối với các thửa đất số 305 và 322.
Đại diện UBND xã N phản ánh:
- - Theo hồ sơ 299 (bản đồ đo đạc, sổ mục kê lập năm 1986- 1987): Vị trí thửa đất nhà ông Q (hiện do ông V sử dụng) là thửa số 178; thửa đất nhà bà Bùi Thị P là thửa số 202; thửa đất nhà ông Bùi Văn Đ là thửa số 181 và số 182; thửa đất nhà ông Bùi Văn X là thửa số 146; thửa đất nhà ông Bùi Văn T1 (nay là đất nhà anh Bùi Văn H) là thửa số 179. Các thửa đất đều thuộc mảnh 4 tờ bản đồ số 6. Phần đất là lối đi dẫn vào thửa đất số 178 của ông Q có vị trí nằm ở giữa thửa đất số 202 của bà P và thửa đất số 181, 182 của ông Đ. Lối đi này đã hình thành từ trước khi nhà ông Đ đến ở trên đất nhưng hồ sơ địa chính thời kỳ này không thể hiện diện tích, kích thước các cạnh của lối đi. Qua tìm hiểu thông tin, địa phương nắm được hiện trạng lối đi thời điểm này là đường đất, rộng khoảng hơn 2m, dài khoảng 39m; cùng sử dụng lối đi này có nhà ông Q, ông Đ. Thời điểm này giữa thửa đất của nhà ông Đ với đất nhà ông X, ông T1 có một bờ ruộng rộng khoảng gần 1m. Bờ ruộng này chính là lối đi vào đất nhà ông T1. Ngoài bờ ruộng này thì không còn lối đi nào khác vào đất nhà ông T1.
- - Theo hồ sơ địa chính năm 1994 (bản đồ đo đạc năm 1994 được phê duyệt năm 1998 và sổ mục kê bản đồ năm 1994) thể hiện: Vị trí thửa đất nhà ông Q là thửa số 306; thửa đất nhà bà P là thửa số 320 và 331; thửa đất nhà ông Đ là thửa số 321 và 330; thửa đất nhà ông X là thửa số 329 và 328; thửa đất nhà ông T1 là thửa số 305 và 322. Các thửa đất đều thuộc tờ bản đồ số 02. Thời kỳ này có một lối đi chung của các thửa đất số 329 nhà ông X và thửa đất số 321, số 330 nhà ông Đ. Lối đi chung này không kéo dài đến thửa đất số 305, số 322 nhà anh H và số 306 nhà ông V. Hồ sơ địa chính thời kỳ này không thể hiện diện tích, kích thước các cạnh của lối đi chung.
Những người làm chứng gồm:
Ông Bùi Văn X trình bày: Thời điểm ông đến sinh sống tại thôn C thì nhà ông Đ, ông Q, ông T1 cùng sử dụng lối đi về phía giáp đất nhà bà P. Nhà ông T1 phải đi nhờ qua đất nhà ông Q để đi ra lối đi này. Ngăn cách giữa đất nhà ông và nhà ông Đ có 01 bờ ruộng rộng khoảng 0,5m. Thời gian đầu nhà ông có sử dụng bờ ruộng này để đi ra lối đi giáp đất nhà bà P. Sau này thôn, xã mở rộng đường xóm và đổ bê tông thì nhà ông không sử dụng bờ ruộng đó nữa. Nhà ông Đ, ông T1, ông Q thỏa thuận thay đổi lối đi chung từ phía giáp đất bà P sang phía giáp đất nhà ông như thế nào thì ông không nắm được. Thực tế thì cả ba nhà đã cùng sử dụng và nâng cấp lối đi giáp đất nhà ông từ nhiều năm nay.
Bà Bùi Thị P trình bày: Các thửa đất nhà bà và nhà ông Đ, ông T1 (nay là anh H), ông Q (nay là ông V) thời điểm năm 1980 đều là đất ruộng được ngăn cách bởi các bờ ruộng rộng khoảng 0,5m. Thời điểm này chỉ có nhà ông Đ và nhà ông Q sử dụng bờ ruộng giáp đất nhà bà; nhà ông T1 sử dụng bờ ruộng giáp đất ông X để đi lại. Nhà bà không sử dụng bờ ruộng cùng các gia đình khác vì đất nhà bà đã giáp đường đi. Sau này bờ ruộng giáp đất nhà bà bị lở nên bà bảo vợ chồng ông Đ lấy phần bờ ruộng đã bị lở để sử dụng và mở rộng bờ ruộng giáp đất ông X, ông T1 để cho nhà ông T1, ông Q đi cả thể. Vì vậy phần bờ ruộng giáp đất nhà bà hiện nằm trong đất nhà ông Đ.
Ông Bùi Văn T1 trình bày: Các thửa đất anh H, chị L đang quản lý, sử dụng có nguồn gốc là của vợ chồng ông. Gia đình ông sử dụng đất từ năm 1981 và có lối đi nằm giữa các thửa đất của nhà ông với đất nhà ông X, ông Đ, lối đi kết nối từ đường trục chính của thôn vào thẳng đất nhà ông Q (nay là đất ông V). Phần lối đi này không nằm trong đất nhà ai và có ba nhà cùng sử dụng lối đi này gồm nhà ông, nhà ông Đ, nhà ông Q. Ngoài lối đi này thì thửa đất của nhà ông (hiện là đất nhà anh H và chị L) không còn lối đi vào nào khác.
Ông Bùi Văn H3 trình bày: Vị trí lối đi chung của nhà ông Đ, ông Q nằm ở phía giáp đất nhà bà P. Nhà ông T1 có lối đi chính là bờ ruộng ngăn cách giữa đất nhà ông Đ và nhà ông X. Thực tế nhà ông T1 đi nhờ qua đất nhà ông Q để đi ra lối đi giáp đất nhà bà P. Sau này lối đi giáp đất nhà bà P bị lở thì nhà ông Q, ông T1, ông Đ thay đổi vị trí lối đi sang giáp đất nhà ông X.
Ông Phan Văn L1 trình bày: Ban đầu nhà ông phải đi nhờ qua đất nhà ông T1 để đi ra lối đi chung giáp đất nhà bà P. Thời điểm đó nhà ông T1, nhà ông Q cũng sử dụng lối đi này. Đến khi thôn, xã làm đường thì nhà ông không sử dụng lối đi này nữa mà đi nhờ qua nhà khác để ra đường thôn cho gần hơn. Sau đó nhà ông Q, ông T1, ông Đ thỏa thuận như thế nào để thay đổi lối đi sang phía giáp đất nhà ông X thì ông không nắm được. Thực tế cả ba nhà đã cùng nhau sử dụng lối đi giáp đất ông X trong nhiều năm nay.
Qua xác minh, đại diện thôn C phản ánh: Trước khi nhà ông Đ đến ở trên đất thì đã có một lối đi kết nối từ đường thôn vào đất nhà ông Q (nay là đất ông V), vị trí nằm giữa đất nhà bà P với đất nhà ông Đ. Hiện trạng lối đi lúc này là đường đất, rộng khoảng hơn 2m, dài khoảng 39m. Thời điểm này giữa các thửa đất của nhà ông Đ với đất nhà ông X, ông T1 có một bờ ruộng rộng khoảng gần 01m. Bờ ruộng này chính là lối đi vào đất nhà ông T1 (hiện là đất nhà anh H, chị L), ngoài ra đất nhà ông T1 không còn lối đi vào nào khác. Trước năm 1994 (không xác định được cụ thể là năm nào), các gia đình thay đổi vị trí lối đi chung từ phía giáp đất bà P sang phía giáp đất nhà ông X, nhà ông T1. Hiện trạng lối đi thời điểm này là đường đất, rộng khoảng hơn 2m, kéo dài từ đường thôn vào đất nhà ông Q. Khoảng năm 2005- 2006, thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới, địa phương và thôn đã vận động các gia đình thực hiện bê tông hóa đường xóm, đường ngõ. Vì vậy trên cơ sở kinh phí do nhà nước và nhân dân cùng đóng góp (nhà nước cho xi măng, các hộ dân đóng góp phần còn lại), phần lối đi chung giữa các nhà đã được đổ bê tông với chiều rộng mặt đường khoảng 2m, chiều dài từ đường thôn đến đất nhà ông V. Phần kinh phí mỗi gia đình đóng góp để làm đường bê tông được trích từ quỹ khoán ruộng chung của thôn và địa phương. Nhà anh H, ông Đ, ông V chỉ đóng ngày công.
Tại phiên tòa: Anh H giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và không nhất trí với yêu cầu của ông Đ về việc hủy các GCN QSDĐ đứng tên vợ chồng anh đối với các thửa đất số 305, số 322. Ông Đ, bà D trình bày toàn bộ diện tích lối đi giáp đất bà P và diện tích lối đi giáp đất ông X đều thuộc đất của ông bà; diện tích đất tăng là do sai đó trong đo đạc. Vì vậy ông bà không nhất trí với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông V đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Anh C, chị T đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng và các đương sự về cơ bản đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ các quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc gia đình ông Đ, bà D phải di chuyển tài sản và cây trồng để trả lại lối đi chung có diện tích 70,6m2. Hủy GCN QSDĐ do UBND thành phố C cấp ngày 20/11/1999 đứng tên ông Đ đối với các thửa đất số 321 và số 330, tờ bản đồ số 02 tại xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông Đ về việc hủy các GCN QSDĐ do UBND thành phố C cấp ngày 12/12/2008 đứng tên anh H, chị L đối với các thửa đất số 305, số 322, tờ bản đồ số 2 tại xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đ, bà D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị C1 và đại diện UBND xã N, đại diện UBND thành phố C vắng mặt. Đại diện UBND xã N có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nói trên.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ các tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Thửa đất của gia đình ông Bùi Văn Đ, bà Phan Thị D theo hồ sơ 299 là thửa đất số 181 thuộc mảnh 4 tờ bản đồ số 6; theo hồ sơ năm 1994 là thửa đất số 330, số 321 thuộc tờ bản đồ số 2. Thửa đất nhà bà Bùi Thị P theo hồ sơ 299 là thửa đất số 202 thuộc mảnh 4 tờ bản đồ số 6; theo hồ sơ năm 1994 là thửa đất số 320 và số 331 thuộc tờ bản đồ số 2. Thửa đất nhà ông Bùi Văn Q hiện do ông Nguyễn Văn V sử dụng theo hồ sơ 299 là thửa đất số 178 thuộc mảnh 4 tờ bản đồ số 6; theo hồ sơ năm 1994 là thửa đất số 306 thuộc tờ bản đồ số 2. Thửa đất nhà ông Bùi Văn X theo hồ sơ 299 là thửa đất số 146 thuộc mảnh 4 tờ bản đồ số 6; theo hồ sơ năm 1994 là thửa đất số 329, số 328 thuộc tờ bản đồ số 2. Thửa đất nhà ông Bùi Văn T1 hiện do anh Bùi Văn H, chị Bùi Thị L sử dụng theo hồ sơ 299 là thửa đất số 179 thuộc mảnh 4 tờ bản đồ số 6; theo hồ sơ năm 1994 là thửa đất số 305, số 322 thuộc tờ bản đồ số 2. Các thửa đất đều có địa chỉ tại thôn C, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
[2.2] Bản đồ 299 thể hiện giữa các thửa đất của nhà ông Đ, bà D với thửa đất của nhà bà P có một lối đi chung được kết nối từ đường trục chính của thôn vào tới thửa đất của ông Q nhưng không thể hiện chiều rộng, chiều dài lối đi này như thế nào. Thực tế nhà ông Đ, ông Q cùng sử dụng lối đi này. Nhà ông Bùi Văn T1, nhà ông Bùi Văn X, nhà ông Phan Văn L1 không giáp lối đi này nhưng cũng đi nhờ qua đất nhà khác để đi ra lối đi này. Theo phản ánh của đại diện thôn và một số người dân sinh sống lâu năm tại thôn C thì lối đi này được hình thành trước khi ông Đ, bà D quản lý, sử dụng đất. Do đó trình bày của ông Đ, bà D về việc ông bà là người cải tạo, mở lối đi giáp đất bà P từ diện tích đất của gia đình ông bà là không có cơ sở và có căn cứ để xác định lối đi giáp đất bà P là lối đi chung của tập thể, thuộc quyền quản lý của UBND xã N.
[2.3] Bản đồ đo đạc năm 1994 không thể hiện lối đi giáp đất bà P mà thể hiện lối đi nằm giữa đất ông Đ, bà D với đất ông X và được kết nối từ đường trục chính của thôn đến thửa đất số 321 của ông Đ, bà D (không kết nối đến đất ông Q, ông T1). Theo trình bày của ông Đ, bà D và những người làm chứng do lối đi giáp đất bà P bị lở nên nhà ông Đ, bà D, nhà ông Q, nhà ông T1 cùng sử dụng lối đi là bờ ruộng giáp đất ông X, ông T1 từ trước năm 1994 đến nay. Thời điểm đầu bờ ruộng rộng khoảng 0,5m nhưng quá trình sử dụng, ông Đ và bà D đã bồi đắp, mở rộng dần vào đất của ông bà. Đến năm 2005- 2006, địa phương vận động các gia đình thực hiện bê tông hóa đường xóm, đường ngõ theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, nhà nước hỗ trợ xi măng, các gia đình đóng góp ngày công thì lối đi giáp đất ông X, ông T1 đã được đổ bê tông có chiều rộng nền đường là 2m, chiều dài kết nối từ đường trục chính của thôn vào đến đất nhà ông V. Anh H, ông V cho rằng vị trí lối đi chung đã được thay đổi từ phía giáp đất bà P sang phía giáp đất ông X, đất anh H vì diện tích lối đi giáp đất bà P hiện nằm trong đất nhà ông Đ, bà D và diện tích đất hiện trạng ông Đ, bà D sử dụng lớn hơn diện tích đất được cấp GCN QSDĐ. Tuy nhiên như đã phân tích ở phần [2.2], lối đi giáp đất bà P là lối đi tập thể thuộc quyền quản lý của UBND xã N. Từ trước cho tới nay, UBND xã N và các cơ quan có thẩm quyền không ban hành văn bản nào có nội dung thay đổi vị trí lối đi tập thể từ phía giáp đất bà P sang phía giáp đất ông X. Mặt khác các hộ dân cũng không có quyền xác lập giao dịch, thỏa thuận thay đổi vị trí lối đi của tập thể, không được hoán đổi diện tích lối đi của tập thể vào diện tích đất của người khác.
[2.4] Hiện các thửa đất số 305, số 322 của nhà anh H và thửa đất số 306 của nhà ông V bị vây bọc bởi các thửa đất khác và không có lối đi ra đường công cộng. Do đó anh H, ông V có quyền yêu cầu được mở lối đi hợp lý trên phần đất của ông Đ, bà D và phải đền bù chi phí mở lối đi cho ông Đ, bà D theo quy định tại Điều 254 Bộ luật dân sự. Thực tế nhiều năm nay, nhà anh H và nhà ông V đã sử dụng lối đi qua đất nhà ông Đ, bà D có nền đường rộng 02m. Trường hợp phải mở lối đi cho nhà anh H, nhà ông V thì ông Đ, bà D cũng nhất trí lối đi có chiều rộng 02m. Vị trí lối đi hiện nằm trong thửa đất số 321 và với chiều rộng nền đường là 2m, chiều dài kết nối từ đường trục chính của thôn vào đến đất nhà ông V thì tổng diện tích lối đi là 70,6m2 (theo hình A2A3A4A5A6A7A12A13A14 tại sơ đồ kèm theo). Thửa đất số 321 gồm 300m2 đất ở và 141m2 đất vườn. Vì vậy cần xác định loại đất được sử dụng để làm lối đi là đất vườn có giá trị theo xác định của Hội đồng định giá là 80.000đ/m2. Phần công sức cải tạo lối đi được áng trích cho ông Đ, bà D là 20.000.000đ. Hiện có ba nhà cùng sử dụng lối đi này gồm nhà ông Đ, bà D, nhà anh H và nhà ông V nên mỗi nhà sẽ phải chịu một phần chi phí mở lối đi = {(70,6m2 x 80.000đ/m2) + 20.000.000đ}: 3 = 8.549.300đ (làm tròn).
[2.5] Tại bản đồ đo đạc năm 1994, sổ mục kê năm 1994 và GCN QSDĐ có số bìa O 874870, số vào sổ cấp GCN 0218 QSDĐ, do UBND huyện C (nay là thành phố C) cấp ngày 20/11/1999 đứng tên ông Bùi Văn Đ đều thể hiện thửa đất số 321 có diện tích 441m2 và thửa đất số 330 có diện tích 322m2. Tổng diện tích hai thửa đất là 763m2. Tuy nhiên kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án xác định tổng diện tích hiện trạng các thửa đất ông Đ, bà D quản lý, sử dụng là 850,7m2. Với hình thể, kích thước thửa đất số 321, số 330 được ghi nhận tại GCN QSDĐ khi áp vào hiện trạng đất đã bao trùm cả phần diện tích đất là lối đi về phía giáp đất bà P. Mặt khác hiện lối đi về phía giáp đất nhà anh H, đất nhà ông X được xác định là lối đi chung của nhà ông Đ, bà D, nhà anh H, nhà ông V. Vì vậy nguyên đơn yêu cầu hủy GCN QSDĐ nói trên là có căn cứ và được chấp nhận.
[3] Ngày 12/12/2008, UBND huyện C (này là UBND thành phố C) cấp GCN QSDĐ đứng tên anh Bùi Văn H, chị Bùi Thị L có số bìa AM 727092, số vào sổ cấp GCN QSDĐ: H 01066 đối với thửa đất số 305 và số bìa AM 727093, số vào sổ cấp GCN QSDĐ: H 01067 đối với thửa đất số 322 trên cơ sở giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa anh H, chị L với vợ chồng ông Bùi Văn T1. Hiện các bên không tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch này. Tại các GCN QSDĐ thể hiện thửa đất số 305, số 322 giáp đường xóm rộng 02m là phù hợp với hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm cấp GCN QSDĐ. Mặt khác như đã phân tích ở các phần trên, đường xóm thể hiện tại các GCN QSDĐ này hiện là lối đi chung của nhà anh H, chị L với nhà ông V và nhà ông Đ, bà D. Vì vậy ông Đ đề nghị hủy các GCN QSDĐ đứng tên anh H, chị Lê V1 cho rằng đường xóm thể hiện tại các GCN QSDĐ này là đường đi riêng nằm trong diện tích đất của gia đình ông là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Anh H đã chi trả và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 8.600.000đ nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Anh H, chị L, ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải trả cho ông Đ, bà D. Ông Đ, bà D phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu xác định lối đi chung của nguyên đơn được chấp nhận. Tuy nhiên ông Đ, bà D, ông V là người cao tuổi nên Hội đồng xét xử miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đ, bà D, ông V theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 31 Luật đất đai năm 2024; các Điều 245, 246, 247, 248, 254 Bộ luật dân sự; các Điều 147, 155, 157, 158, 163, 165, 166, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Bùi Văn H, chị Bùi Thị Lê .
- - Xác định diện tích 70,6m2 theo hình A2A3A4A5A6A7A12A13A14 (có sơ đồ kèm theo) là lối đi chung của gia đình anh Bùi Văn H, chị Bùi Thị L; gia đình ông Bùi Văn Đ, bà Phan Thị D và gia đình ông Nguyễn Văn V.
- Buộc ông Bùi Văn Đ, bà Phan Thị D phải di chuyển tài sản, cây trồng trên diện tích 70,6m2 theo hình A2A3A4A5A6A7A12A13A14 (có sơ đồ kèm theo) để trả lại mặt bằng lối đi chung cho ba nhà gồm nhà ông Bùi Văn Đ, bà Phan Thị D và nhà anh Bùi Văn H, chị Bùi Thị L, nhà ông Nguyễn Văn V cùng quản lý, sử dụng.
- - Buộc anh Bùi Văn H và chị Bùi Thị L phải thanh toán cho ông Bùi Văn Đ, bà Phan Thị D chi phí mở lối đi chung là 8.549.300đ (tám triệu năm trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm đồng).
- - Buộc ông Nguyễn Văn V phải thanh toán cho ông Bùi Văn Đ, bà Phan Thị D chi phí mở lối đi chung là 8.549.300đ (tám triệu năm trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm đồng).
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa O 874870, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 0218/QSDĐ, do UBND huyện C (nay là UBND thành phố C) cấp ngày 20/11/1999 đứng tên ông Bùi Văn Đ đối với các thửa đất số 321 và số 330, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Thôn C, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Văn Đ về việc hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện C (nay là UBND thành phố C) cấp ngày 12/12/2008 đứng tên anh Bùi Văn H, chị Bùi Thị L có số bìa AM 727092, số vào sổ cấp GCN QSDĐ: H 01066 đối với thửa đất số 305, tờ bản đồ số 2 và số bìa AM 727093, số vào sổ cấp GCN QSDĐ: H 01067 đối với thửa đất số 322, tờ bản đồ số 2; địa chỉ các thửa đất: Thôn C, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Về chi phí tố tụng: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Bùi Văn H về việc chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.600.000đ (đã chi).
- Về án phí: Buộc anh Bùi Văn H và chị Bùi Thị L phải chịu 427.500đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0000637 ngày 24/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh H và chị L phải nộp tiếp số tiền án phí là 127.500đ (một trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Bùi Văn Đ, bà Phan Thị D, ông Nguyễn Văn V.
5. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy | Nơi nhận:
|
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lối đi chung
