Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN YÊN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/DS-ST

Ngày 17/6/2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Bích Huề
  2. Bà Ngô Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thu Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 21/2024/TLST-DS ngày 09/10/2024 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét 04/2025/TB-TA ngày 16 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-DS ngày 29/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1955 và bà Trương Thị Đ, sinh năm 1956. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hoàng Văn L - Bà Đặng Thị B - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. (có mặt)

Bị đơn:

Ông Phạm Văn H sinh năm 1968, bà Cầm Thị V, sinh năm 1977. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Anh Trương Văn T sinh năm 1977 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Chị La Thị T1 sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái

Chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Người làm chứng:

- Ông Lý Xuân H1, sinh năm 1951 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái

- Ông Đặng Văn C, sinh năm 1940 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái

- Ông Đặng Văn Q, sinh năm 1949 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các bản khai tiếp theo và tại phiên toà nguyên đơn ông Hoàng Văn L, bà Trương Thị Đ trình bày: Năm 1977 gia đình ông, bà có phát dọn được một phần đất đồi rừng thuộc khu vực K (nay là thôn V), xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi phát dọn xong thì chúng tôi tiến hành trồng cọ và lúa nương và sử dụng đến năm 1993 thì thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc kê khai cấp đất đồi rừng, chúng tôi đã tiến hành kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái giao đất, giao rừng theo hồ sơ giao đất giao rừng (dùng cho mục đích lâm nghiệp) với diện tích đất được khoanh là 4ha. Khi giao đất có sự chứng kiến của cán bộ kiểm lâm khi đó là ông N (không nhớ rõ họ và tên đệm), ông Lý Xuân H1 trưởng ban lâm nghiệp xã, ông Đặng Văn C đội trưởng sản xuất nông nghiệp xã. Khi giao đất không đo diện tích cụ thể mà chỉ xác định diện tích giao theo các mốc gianh giới với các hộ liền kề. Tại thời điểm giao đất thì các hộ giáp ranh với đất nhà ông, bà gồm: Hộ ông Trần Đức P, hộ ông Đặng Văn Q. Ranh giới giữa các hộ được xác định là khe nước cạn (hiện nay các khe cạn này vẫn còn nguyên hiện trạng). Sau khi được giao đất chúng tôi tiếp tục trồng cọ và lúa nương trên đất và không có tranh chấp gì với các hộ liền kề. Trong quá trình sử dụng, thực hiện chủ trương của huyện về trồng cây keo theo dự án 327 của huyện nên chúng tôi đã cho huyện mượn đất (thông qua ông Lý Xuân H1 trưởng ban lâm nghiệp xã) để trồng cây theo dự án. Năm 2005 kết thúc dự án, khai thác cây thì chúng tôi đã nhận lại diện tích đất trên. Trong quá trình sử dụng thì năm 1999 chúng tôi phát hiện ông Phạm Văn H và bà Cầm Thị V là người cùng thôn đã trồng vào một phần diện tích đất của gia đình tôi (phần đất tiếp giáp với nhà ông Q). Sau khi phát hiện ra việc ông H và bà V lấn chiếm đất của gia đình chúng tôi, chúng tôi đã nhiều lần yêu cầu ông H, bà V thu dọn cây cối trả lại đất cho gia đình chúng tôi. Nhưng ông H, bà V không nhất trí. Sau đó do con gái tôi bị bệnh phải đưa đi chạy chữa nhiều nơi nên cũng không có thời gian trồng cấy, một phần là cho huyện mượn để trồng cây theo dự án nên chúng tôi đã bỏ bẵng đi việc đòi đất. Đến năm 2020 sau khi đã lo xong việc bệnh tình cho con và huyện cũng trả lại phần đất rừng đã mượn trước đó nên chúng tôi lại tiếp tục làm đơn yêu cầu xã giải quyết. Tuy nhiên, ông H, bà V không hợp tác nên hòa giải không thành công. Hiện nay trên đất ông H, bà V đang trồng quế khoảng 3 đến 4 tuổi.

Đối với phần diện tích đất hiện nay đang có tranh chấp với nhà anh Trương Văn T và chị La Thị T1 cũng nằm trong phần diện tích đất mà chúng tôi đã được giao đất, giao rừng năm 1993. Do những năm chúng tôi đi chạy chữa bệnh cho con không có điều kiện chăm sóc đồi rừng nên anh Trương Văn T là con trai của ông Trương Văn N1 người cùng thôn đã lấn chiếm một phần đất đồi rừng của chúng tôi để trồng quế, sắn. Phần đất anh Trương Văn T lấn chiếm của tôi nằm ở chân đồi giáp đất vườn của ông N1 (bố đẻ anh T). Năm 2020 tôi làm đơn ra xã yêu cầu giải quyết tranh chấp đất với nhà anh Trương Văn T nhưng không thành. Quá trình hòa giải tại xã, chính quyền địa phương đã yêu cầu đất đang tranh chấp không được trồng cấy nhưng anh T không thực hiện). Hiện nay trên phần diện tích đất tranh chấp anh T, chị T1 đang trồng sắn và quế con.

Nay chúng tôi yêu cầu ông Phạm Văn H và bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải thu dọn toàn bộ cây cối, hoa mầu trên đất trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm của chúng tôi. Cụ thể: Yêu cầu ông Phạm Văn H và bà Cầm Thị V phải trả lại phần diện tích 1.781.1m²; yêu cầu anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải trả lại phần diện tích 1.966.9m² theo diện tích đã được kiểm tra và các bên xác định gianh giới theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2025 và tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Văn H trình bày: Tôi và vợ là Cầm Thị V kết hôn và về sinh sống tại thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái từ năm 1997. Khi về đó ở vợ chồng tôi có mua của ông Đặng Văn Q trú tại thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái một mảnh nương diện tích 1,9 ha nhưng không đo đạc cụ thể. Khi mua bán thì ông Q có bàn giao cho chúng tôi một sổ giao đất, giao rừng mang tên ông Q được giao vào năm 1993, nhưng do quá trình quản lý nên đến nay tôi đã làm mất. Khi sử dụng phần diện tích đất mua của ông Q thì vào năm 1998 tôi thấy có một phần diện tích đất liền kề đất tôi mua của ông Q (phần đất giáp giông) không ai sử dụng nên vợ chồng tôi đã tiến hành phát dọn và trồng cây keo từ năm 1998 cho đến nay tôi đã khai thác được 03 vụ. Hiện nay đang trồng vụ bốn (trồng quế) độ tuổi của quế gồm 02 loại là 05 tuổi và một phần ít gần giáp giông là quế 02 tuổi. Từ khi phát dọn và trồng cây gia đình sử dụng ổn định không có tranh chấp. Nay ông L, bà Đ yêu cầu chúng tôi trả lại đất chúng tôi không đồng ý, đây là phần đất năm 1998 tôi không thấy ai sử dụng nên vợ chồng tôi mới phát để trồng cây, chứ không có ý định lấn chiếm của ai. Đối với phần đất này gia đình tôi đang trồng cây nhưng cũng không có giấy tờ gì. Nếu ông L muốn lấy lại phần diện tích đất gia đình tôi đang trồng cây thì tôi đề nghị trả cho gia đình tôi 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng là tiền công tôi phát dọn và trả tiền cây trồng trên đất hiện nay cho tôi (là cây quế).

Phần diện tích đất hiện nay đang có tranh chấp với ông L, bà Đ là do vợ chồng tôi trồng cấy, không liên quan đến các con của tôi.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2025 và tại phiên tòa bị đơn anh Trương Văn T trình bày: Từ năm 1991 tôi theo bố mẹ tôi về phát nương và sinh sống tại thôn V, xã N, huyện V, tịnh Y. Khi về ở bố mẹ tôi có làm thủ tục đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với một phần đất đang sử dụng, còn một phần thì không xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng gia đình vẫn sử dụng ổn định trồng cây lâm nghiệp. Sau khi bố mẹ tôi mất thì tôi trực tiếp đứng ra quản lý toàn bộ diện tích đất của bố mẹ tôi để lại cho tôi. Trong phần đất bố mẹ tôi giao lại cho tôi sử dụng có 0,7 ha đất là đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần còn lại là chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ khi khai phá và trồng rừng không có tranh chấp với ai.

Nay ông Hoàng Văn L làm đơn khởi kiện cho rằng tôi có lấn chiếm phần đất của gia đình ông L (phần đất mà gia đình tôi đã sử dụng ổn định từ năm 1991 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) tôi không nhất trí vì phần đất này tôi và gia đình đã sử dụng ổn định từ năm 1991. Trong suốt quá trình sử dụng không có tranh chấp với ai, đối với phần đất này tôi đã trồng và khai thác nhiều lần, hiện nay gia đình đang trồng quế từ 01 đến 03 tuổi và trồng sắn.

Việc sử dụng đất và trồng cây trên phần diện tích đất tranh chấp là do vợ chồng tôi sử dụng không liên quan đến các con.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2025 bị đơn chị La Thị T1 trình bày: Chị kết hôn với anh Trương Văn T năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái nhưng bản thân chị không chuyển hộ khẩu về xã N mà vẫn để hộ khẩu tại thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Chị và anh T có 02 nhà một nhà ở thôn V, xã N, huyện V và một nhà tại thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái nên chị và anh T thường xuyên đi lại giữa hai nhà. Sau khi kết hôn chị về nhà anh T và cùng anh T trồng quế trên diện tích đất nhà anh T. Khi về làm dâu thì anh T bảo đất đến đâu thì vợ chồng tôi canh tác và sử dụng đến đó. Nay ông L, bà Đ khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh chị trả lại đất chị không đồng ý vì diện tích đất này chị được biết gia đình nhà chồng đã sử dụng từ ngày xưa và đến khi chị về làm dâu tiếp tục sử dụng chứ không có việc lấn chiến đất của ông L, bà Đ.

Tại phiên tòa bà Cầm Thị V xác định phần đất đang có tranh chấp với ông Hoàng Văn L là do vợ chồng bà khai phá, phát dọn từ năm 1998 và sử dụng ổn định đến nay không có tranh chấp. Nay ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ đề nghị trả lại đất bà không nhất trí.

Người làm chứng trình bày:

- Ông Đặng Văn Q trình bày: Năm 1993 thực hiện chính sách của Nhà nước nên ông đã được kê khai xin giao đất, giao rừng và được kiểm lâm huyện V phối hợp với Ủy ban nhân dân xã giao đất giao rừng. Năm đó, ngoài gia đình ông còn rất nhiều hộ khác cũng được kiểm lâm huyện V giao đất giao rừng. Sau khi được giao đất giao rừng thì thực hiện dự án 327 của huyện V về trồng keo, lát nên ông đã cho huyện (thông qua ban lâm nghiệp xã) mượn lại phần đất này để trồng cây. Sau khi kết thúc dự án thì huyện đã trả lại đất cho những hộ dân đã được giao đất, giao rừng trước đó trong đó có hộ nhà ông. Sau khi nhận lại ông đã không có đủ khả năng để phát dọn trồng cây nên ông đã để lại cho ông Phạm Văn H người cùng thôn toàn bộ diện tích đất này. Khi giao đất lại cho ông H ông có bàn giao cho ông H cả số giao đất, giao rừng cấp cho ông năm 1993, nhưng không biết hiện nay ông H có còn giữ không.

Năm 1993 khi ông được giao đất, giao rừng kiểm lâm không tiến hành đo cụ thể chi tiết diện tích mà chỉ tính các giông, lòng khe làm gianh giới giữa các hộ và ghi diện tích vào sổ chứ không đo đạc cụ thể. Khi ông được giao đất thì phần đất của ông giáp với nhà ông L xác định gianh giới giữa hai hộ là lòng khe (hiện nay lòng khe này vẫn còn).

Sau khi ông để lại phần đất của mình được giao năm 1993 thì ông có chỉ gianh giới và bàn giao gianh giới lại cho ông H. Khi đó, tại phần giáp gianh với đất nhà ông có một phần đất nhà ông L được giao nhưng ông L chưa phát dọn để trồng cây. Sau khi ông để lại phần diện tích đất rừng cho ông H thì ông H đã phát qua gianh giới được xác định trước đó giữa ông và nhà ông L và phát vào một phần đất của nhà ông L (phần đất mà ông L được giao nhưng chưa phát dọn trồng cây) và ông H trồng cây từ đó cho đến nay.

Nay giữa hai gia đình xảy ra tranh chấp tôi không có ý kiến gì, chỉ mong các hộ gia đình hòa giải thỏa thuận với nhau.

- Ông Lý Xuân H1 trình bày: Năm 1993 ông là trưởng ban lâm nghiệp xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước giao đất rừng cho nhân dân quản lý và phát triển kinh tế ông đã tham mưu cho đảng ủy chính quyền địa phương xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái phối hợp với cán bộ kiểm lâm triển khai kế hoạch giao đất trồng rừng cho nhân dân trong toàn xã, trong đó có xã V. Ông cùng ông N cán bộ kiểm lâm huyện V, ông Đặng Văn C đội trưởng sản xuất xã và các chủ hộ xin giao đất rừng trong thôn cùng đi nhận đất rừng thuộc khu vực K (nay là thôn V), trong các hộ nhận đất khi đó có hộ ông Hoàng Văn L đã được giao phần diện tích đất mà trước đó gia đình ông L đã trồng sắn, trồng cọ từ năm 1977. Diện tích khoanh giao là 4ha, không đo vẽ diện tích cụ thể nhưng có các gianh giới cụ thể: Bên phải giáp đất nhà ông Đặng Văn Q gianh giới là khe nước cạn; phía tay trái giáp đất của ông Nguyễn Văn T2 cũng có một khe nước cạn; phía dưới chân đồi giáp đất vườn của ông Trương Văn N1 (bố đẻ anh T).

- Ông Đặng Văn C trình bày: Năm 1993 ông là đội trưởng sản xuất nông nghiệp xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có báo cáo chính quyền địa phương vận động các hộ dân trong xã đi nhận đất đồi rừng để quản lý và phát triển kinh tế trồng rừng phủ xanh đồi trọc. Ông cùng ông N cán bộ kiểm lâm huyện V, ông Lý Xuân H1 trưởng ban lâm nghiệp xã, cùng các chủ hộ trong thôn đi nhận đất rừng thuộc khu vực K, trong các hộ nhận đất khi đó có hộ ông Hoàng Văn L đã được giao phần diện tích đất mà trước đó gia đình ông L đã trồng sắn, trồng cọ từ năm 1977, diện tích khoanh giao là 4ha, không đo diện tích cụ thể nhưng có các gianh giới cụ thể: Bên phải giáp đất nhà ông Đặng Văn Q gianh giới là khe nước cạn; phía tay trái giáp đất của ông Nguyễn Văn T2 cũng có một khe nước cạn; phía dưới chân đồi giáp đất vườn của ông Trương Văn N1 (bố đẻ anh T).

Tại phiên tòa:

  • - Ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải thu dọn toàn bộ cây cối, hoa màu trên đất trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm cho ông, bà.
  • - Bị đơn ông Phạm Văn H và anh Trương Văn T, bà Cầm Thị V xác định không lấn chiếm đất của ông L, bà Đ nên không nhất trí trả lại đất.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Hoàng Văn L1 đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 3, Điều 79 Luật Đất đai 1993, Điều 26 Luật Đất đai 2024, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    • Buộc bị đơn Trương Văn T, La Thị T1 phải thu dọn toàn bộ cây cối hoa mầu trên đất, trả lại diện tích đất 1.966,9 m2 đất rừng sản xuất đang lấn chiếm cho nguyên đơn.
    • Buộc bị đơn Phạm Văn H, Cầm Thị V phải thu dọn toàn bộ cây cối, hoa mầu trên đất, trả lại toàn bộ diện tích đất gồm 02 thửa: thửa thứ nhất có diện tích là 1.614,9m², thửa thứ hai có diện tích là 166,2m² đất rừng sản xuất đang lấn chiếm cho nguyên đơn.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên toà. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của tố tụng dân sự. Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng, đủ người tham gia tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
  • - Về giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 203 Luật đất đai chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thu dọn toàn bộ cây cối trên đất, trả lại cho ông Hoàng Văn L 3.748 m², trong đó ông H2, bà V trả lại 1781,1 m²; ông T, bà T1 trả lại 1966,9 m². (Theo sơ đồ và kết quả đo đạc, thẩm định tại chỗ).
  • - Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do đồng nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Tòa án nên căn cứ khoản 1 Điều 157 BLTTDS các đồng bị đơn phải thanh toán số tiền 9.149.000 đồng chỉ phí xem xét thẩm định tại chỗ cho đồng nguyên đơn.
  • - Về Án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án,, đồng bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị La Thị T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì lý do bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị La Thị T1 theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, bị đơn cư trú tại thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái, diện tích đất tranh chấp tại địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên.

[3] Về nội dung:

[3.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải trả lại diện tích đất đang lấn chiếm; Hội đồng xét xử thấy rằng: Về nguồn gốc đất năm 1993 thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng cho người dân quản lý sử dụng và phát triển kinh tế. Khi đó gia đình ông Hoàng Văn L cũng nằm trong danh sách được giao đất, giao rừng.

Theo văn bản số 43/UBND-CV ngày 12/4/2025 của Ủy ban nhân dân xã N (bl 126) xác nhận: Năm 1993 thực hiện chủ trương về việc giao đất, giao rừng Ủy ban nhân dân xã N có tiến hành lập danh sách các hộ dân xin giao đất giao rừng. Ủy ban nhân dân xã đã cử cán bộ xã phối hợp với kiểm lâm huyện V, tỉnh Yên Bái tiền hành giao đất, giao rừng cho các hộ dân trên cơ sở diện tích các hộ dân đã sử dụng ổn định từ trước đó. Tại thời điểm giao đất, giao rừng ông Hoàng Văn L là chủ hộ gia đình có làm thủ tục xin giao đất, giao rừng đối với phần diện tích đất rừng mà ông Hoàng Văn L đã sử dụng từ trước đó. Khi phối hợp với kiểm lâm huyện V, tỉnh Yên Bái giao đất, giao rừng cho các hộ dân thì thì Ủy ban nhân dân xã N tham gia với vai trò là cán bộ phụ trách địa bàn. Khi tiến hành giao đất có thành lập tổ giao đất, giao rừng gồm: (Ông: Nhậm - Cán bộ kiểm lâm; ông: Lý Xuân H1 - địa chính xã; ông: Đặng Văn C - Đội trưởng đội sản xuất), hộ dân được giao đất.

Về diện tích đất được giao đất, giao rừng năm 1993 so với diện tích đất được kiểm tra trên thực địa tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ có chênh lệnh, đo thực địa giảm so với diện tích giao đất, giao rừng năm 1993. Những người làm chứng có mặt khi giao đất, giao rừng đều xác nhận khi đi khoanh giao đất không tiến hành đo vẽ diện tích giao cụ thể mà chỉ giao trên cơ sở các hộ gia đình được giao đất tự xác định và có gianh giới cụ thể. Hiện nay các gianh giới trên thực địa theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ cũng thể hiện giống như sơ đồ trong hồ sơ giao đất giao rừng.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã làm văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân huyện V trả lời về tính hợp pháp của hồ sơ giao đất, giao rừng đối với ông Hoàng Văn L nhưng không có kết quả trả lời.

Theo công văn số: 43/UBND-CV ngày 12/4/2025 của Ủy ban nhân dân xã N của Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái là đơn vị quản lý đất đai tại cơ sở và công văn số 141/CV-CNVPĐKĐĐ ngày 12/6/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V là đơn vị quản lý hồ sơ cấp đất do Ủy ban nhân dân huyện V cấp xác nhận tính đến thời điểm giải quyết vụ án Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh Yên Bái chưa nhận được thông báo hay quyết định nào của cơ quan có thẩm quyền về việc thu hồi, thay đổi đối với sổ giao đất giao rừng đã cấp cho ông Hoàng Văn L.

Sau khi đo vẽ diện tích trên thực địa và lồng bản đồ 672 thể hiện phần đất đang có tranh chấp có một phần là đất trồng keo của lâm trường. Nguyên nhân thể hiện đất của lâm trường theo các tài liệu có trong hồ sơ và người làm chứng xác nhận bởi sau khi giao đất thì các hộ dân đã cho lâm trường mượn đất để trồng keo theo dự án 327 của huyện dẫn đến khi lập bản đồ lâm nghiệp thể hiện là đất trồng keo của lâm trường. Trên thực tế sau khi giao đất, giao rừng không có sự chuyển nhượng nào về đất giữa các hộ dân với lâm trường. Sau khi kết thúc dự án trồng keo lâm trường cũng đã trả lại đất cho dân tiếp tục trồng cấy. Khi cho mượn không làm giấy tờ nên khi trả cũng không thể hiện bằng văn bản gì.

Về phía bị đơn ông Phạm Văn H và anh Trương Văn T không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì chứng minh về việc được giao quản lý, sử dụng phần diện tích đất đang có tranh chấp nói trên. Bản thân ông Phạm Văn H và bà Cầm Thị V cũng xác định phần đất đang có tranh chấp với ông L là do năm 1998 ông, bà không thấy ai sử dụng nên ông, bà đã tiến hành phát dọn và trồng cây. Đối với anh Trương Văn T khai toàn bộ phần diện tích anh đang sử dụng là được bố mẹ anh tặng cho nhưng anh T cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì chứng minh về việc được tặng cho diện tích đất trên, nếu được tặng cho thì diện tích được tặng cho là bao nhiêu anh T cũng không chứng minh được. Phần diện tích đất đang sử dụng và có tranh chấp bị đơn đều xác nhận chưa kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng chưa thực hiện nghĩa vụ gì với Nhà nước về việc thu thuế đất.

Từ những căn cứ trên thấy rằng mặc dù ông Hoàng Văn L, Trương Thị Đ có những thời gian gián đoạn không sử dụng phần diện tích đất được giao từ năm 1993 nhưng tính đến nay chưa có cơ quan nào thu hồi, sửa đổi, cấp mới đối với phần diện tích đất đã giao cho ông L quản lý, sử dụng. Do đó, có căn cứ xác định phần diện tích đất hiện nay đang có tranh chấp với ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thì T3 thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ. Nên cần buộc ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thì T3 phải trả lại toàn bộ phần diện tích đã lấn chiếm. Cụ thể: Buộc ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm cho ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ là: 1.781,1m² (Thửa thứ nhất có diện tích 1.614,9m² và thửa đất thứ hai có diện tích 166,2m²); buộc anh Trương Văn T và chị La Thì T3 phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm là 1.966.9m² cho ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ, diện tích đất tại thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái.

[3.2] Đối với yêu cầu thu dọn toàn bộ cây cối, hoa màu trên đất: Từ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như việc tranh luận tại phiên tòa có căn cứ cho rằng phần diện tích đất đang có tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ. Do đó, yêu cầu của ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ về việc buộc ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải thu dọn toàn bộ cây cối, hoa màu trên đất đang có tranh chấp là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ được Toà án chấp nhận nên ông L, bà Đ không phải chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Buộc ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tương ứng với phần diện tích đất đo đạc đang có tranh chấp theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tổng số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là: 9.149.000 đồng/3.748m². Số diện tích đất xác định ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V phải trả lại cho L, bà Đ là 1.781,1m² = 4.347.665 đồng (làm tròn là 4.348.000 đồng). Số diện tích đất xác định anh Trương Văn T, chị La Thị T1 phải trả lại cho L, bà Đ là 1.966.9m² = 4.801.000 đồng. Do ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải trả lại cho ông L, bà Đ toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ được Toà án chấp nhận nên bị đơn ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Hoàng Văn L tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 166; Điều 170; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ:
    • + Buộc ông Phạm Văn H và bà Cầm Thị V phải thu dọn toàn bộ cây cối, hoa mầu trên đất gồm 150 cây quế hai năm tuổi và 350 cây quế năm năm tuổi (tính đến thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ) trả lại cho ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ diện tích đất rừng tại thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái, cụ thể:
      • *Thửa thứ nhất có diện tích 1614,9m²:
      • - Phía Tây giáp đất ông Phan Trọng N2 gồm các đoạn: 19.8 và 11.1
      • - Phía Bắc giáp đất của bà Vũ Thị H3 gồm các đoạn: 18.2, 19.6 và 2.6
      • - Phía Nam giáp đất ông Hoàng Văn L đang sử dụng gồm các đoạn: 1.9, 5.4 và 27.3
      • - Phía Đông giáp đất nhà ông Phạm Văn H đang sử dụng gồm các đoạn: 3.0, 10.9, 15.9 và 38.1.
      • *Thửa đất thứ hai có diện tích 166,2m²
      • - Phía Tây và phía Bắc giáp đất ông Hoàng Văn L đang sử dụng gồm các đoạn: 6.1, 6.8, 4.0, 4.1 và 8.1
      • - Phía Đông giáp đất ông Phạm Văn H đang sử dụng đoạn 11.3
      • - Phía Nam giáp đất đường đi gồm đoạn 7.7 và 8.1
      • (có sơ đồ đo đạc kèm theo)
    • + Buộc anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải thu dọn toàn bộ cây cối, hoa mầu tài sản trên đất gồm có:150 cây quế năm năm tuổi, 200 cây quế ba năm tuổi, 500 cây quế dưới một tuổi (tính đến thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ) và trả lại cho ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ diện tích đất rừng là 1.966.9m² tại thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái, cụ thể:
      • - Phía Đông và phía Nam giáp đất nhà ông Hoàng Văn L đang sử dụng gồm các đoạn: 12.5, 8.9, 24.8, 9.1, 19.2, 18.0, 10.6, 9.5, 5.3, 4.2, 6.0, 6.9, 11.6 và 4.2.
      • - Phía Tây giáp đất ông Trương Văn T đang sử dụng gồm các đoạn: 6.2, 4.3, 14.5, 12.5, 12.2, 11.0, 9.1, 8.4, 5.7, 14.7, 18.8, 10.0, 4.6, 3.8, 8.7 và 9.9
      • - Phía Bắc giáp đất ông Phan Trọng N2 đoạn 12.7.
      • (có sơ đồ đo đạc kèm theo)
  2. Về chi phí tố tụng:
    • 2.1. Buộc ông Phạm Văn H và bà Cầm Thị V phải chịu 4.348.000 (bốn triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn) đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ đã nộp tiền tạm ứng xem xét thẩm định tại chỗ nên ông Phạm Văn H và bà Cầm Thị V phải trả ông L, bà Đ số tiền 4.348.000 (bốn triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn) đồng.
    • 2.2. Buộc anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải chịu 4.801.000 (bốn triệu tám trăm linh một nghìn) đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ đã nộp tiền tạm ứng xem xét thẩm định tại chỗ nên ông Phạm Văn H và bà Cầm Thị V phải trả ông L, bà Đ số tiền 4.801.000 (bốn triệu tám trăm linh một nghìn) đồng.
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Hoàng Văn L và bà Trương Thị Đ mà ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thi T4 chưa thi hành án xong, thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí: Ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V, anh Trương Văn T và chị La Thị T1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Ông Hoàng Văn L, bà Trương Thị Đ, ông Phạm Văn H, bà Cầm Thị V và anh Trương Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị La Thị T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND huyện Văn Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, TA, HSVA.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Mai Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 04/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông L yêu cầu ông H phải trả lại đât lấn chiêm ma ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger