|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/DS -ST
Ngày 14 - 4 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng
sử dụng thẻ tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hà Thị Hồng Thu
- Ông Nguyễn Xuân Quý
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N (viết tắt là V1); địa chỉ trụ sở: Số A đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T - chức vụ: Chủ tịch HĐQT, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân T1 - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần N, chi nhánh L. Địa chỉ: Số C đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng Thế V, sinh ngày 16/01/1977.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 58 phố Nguyễn Thị Minh Khai, thị trấn Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Chỗ ở: Số 77, ngõ 123, đường Phai Vệ, khối 7, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Hiện bị đơn đang chấp hành án tại Trại tạm giam số 5 - Cục C - Bộ C1 (thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa), vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo, người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N, ông Lê Xuân T1 trình bày:
Ngày 08/6/2021 ông Hoàng Thế V ký với V1 bản Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Đề nghị phát hành thẻ tín dụng Quốc tế V1 kiêm Hợp đồng (áp dụng cho khách hàng cá nhân) và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế V1 (áp dụng cho khách hàng cá nhân)), các tài liệu này được gọi chung là “Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”.
V1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Quốc tế cho ông Hoàng Thế V là thẻ Visa Signature, số thẻ VS0980000318, với hạn mức tín dụng là 200.000.000 đồng, mục đích là để tiêu dùng cá nhân, thời hạn sử dụng thẻ là 60 tháng. Loại thẻ này có thể được dùng để rút tiền mặt tại cây ATM hoặc được sử dụng để quẹt thẻ tại máy POS có chấp nhận thẻ tín dụng; chủ thẻ sẽ được dùng tối đa số tiền hạn mức được cấp là 200.000.000 đồng. Khoản vay thẻ tín dụng là món vay tín chấp nên không có tài sản bảo đảm.
Lãi suất của thẻ tín dụng Visa Signature được tính tại thời điểm cấp thẻ tín dụng là 15%/năm. Số tiền lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau, theo Điều B khoản I mục 1.5 của điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế V1 phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều B khoản I mục 1.4 của Bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế V1.
Trong quá trình sử dụng thẻ, ông Hoàng Thế V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều B, khoản I mục 1.18 của điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế V1, Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo, đôn đốc trả nợ (gặp và giao cho vợ ông V là bà Mai Thị H), nhưng đến nay khoản vay vẫn chưa được thanh toán, thuộc nhóm nợ xấu từ tháng 6/2023. Tính đến ngày 09/12/2024 khoản vay của ông Hoàng Thế V với số thẻ VS0980000318 còn nợ V1 tổng số tiền là 28.450.006 đồng (trong đó nợ gốc 19.831.633 đồng, lãi quá hạn và phí phát sinh là 8.618.373 đồng).
Nay V1 khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết, buộc ông Hoàng Thế V phải trả cho V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 09/12/2024 là 28.450.006 đồng và buộc ông Hoàng Thế V phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10/12/2024 theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký, cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ cho V1.
Tại bản tự khai ngày 06/3/2025 bị đơn ông Hoàng Thế V khai:
Ngày 08/6/2021 ông Hoàng Thế V có dùng dịch vụ thẻ Visa Signature của Ngân hàng TMCP N chi nhánh tại Lạng Sơn. Tháng 12/2022 ông đi công tác tại C Pháp, sau khi về đến sân bay N Việt Nam, ông được mời về làm việc tại Công an tỉnh L và bị tạm giam ngay sau đó do ông vi phạm pháp luật. Quá trình điều tra và bị tạm giam, do tâm lý bất ổn, ông không nhớ bản thân đang dùng dịch vụ thẻ Visa Signature của V1 chi nhánh tại Lạng Sơn và trong suốt quá trình tạm giam để điều tra và xét xử, cho đến nay ông không nhận được thông tin của V1 về sự việc nêu trên. Hiện ông đang chấp hành án tại trại giam, nên không có khả năng trả số tiền ông đã sử dụng.
Quá trình giải quyết vụ án, do bị đơn ông Hoàng Thế V đang chấp hành án không thể tham gia tố tụng tại Toà án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được. Tại phiên tòa, Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông Hoàng Thế V cũng có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, ngoài ra Toà án không nhận được tài liệu chứng cứ hoặc văn bản trình bày, thay đổi ý kiến nào khác của bị đơn.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thụ lý vụ án; xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp; thực hiện thu thập tài liệu chứng cứ; tống đạt và niêm yết công khai đầy đủ các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thành phần, trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án từ khi khai mạc phiên tòa đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của thư ký tại phiên toà. Nguyên đơn, bị đơn đều đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
Đề xuất hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, b khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 275, 351, 357, 398, 463, 466, 468, của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N, buộc ông Hoàng Thế V có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền nợ tính đến ngày 09/12/2024 là 28.450.006 đồng, trong đó nợ gốc 19.831.633 đồng, nợ lãi quá hạn và phí phát sinh 8.618.373 đồng và ông Hoàng Thế V có trách nhiệm thanh toán tiếp tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng đã ký kể từ ngày 10/12/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng; buộc ông Hoàng Thế V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự; nội dung kiến nghị khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, các đương sự đều vắng mặt, tuy nhiên nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Hoàng Thế V hiện đang chấp hành án tại trại giam nên không thể có mặt và đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa V1 và ông Hoàng Thế V phát sinh từ Hợp đồng dân sự là sử dụng thẻ tín dụng với mục đích để tiêu dùng cá nhân, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được giao kết tại thành phố L, do vậy tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về tính hợp pháp của Hợp đồng, xét thấy: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được giao kết giữa một bên là Tổ chức tín dụng với 1 bên là cá nhân có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hợp đồng được giao kết trên cơ sở tự nguyện, với mục đích dân sự là phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân của bị đơn; hợp đồng đã tuân thủ đúng về nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sựdo vậy Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng mà ông Hoàng Thế V giao kết với V1 ngày 08/6/2021 là hợp pháp, các bên đều có quyền và phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.
[4] Đối với yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 09/12/2024 là 28.450.006 đồng, xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hoàng Thế V cũng thừa nhận được sử dụng dịch vụ thẻ tín dụng Quốc tế Visa Signature của V1 chi nhánh tại Lạng Sơn cung cấp. Nhưng từ tháng 12/2022 ngay sau khi đi công tác nước ngoài trở về đến Sân Bay N, bị đơn đã bị tạm giữ, tạm giam do có hành vi vi phạm pháp luật, không nhớ đến số tiền đã sử dụng bằng dịch vụ thẻ tín dụng Quốc tế Visa Signature của V1. Hiện bị đơn đang chấp hành án tại trị giam, nên không có điều kiện để thanh toán nợ cho V1. Như vậy xác định yêu cầu khởi kiện của V1 nêu trên là có căn cứ, được chấp nhận; buộc bị đơn ông Hoàng Thế V phải trả cho V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 09/12/2024 là 28.450.006 đồng (bao gồm nợ gốc 19.831.633 đồng, nợ lãi quá hạn và phí phát sinh là 8.618.373 đồng).
[5] Đối với yêu cầu trả tiền lãi, phí phát sinh kể từ ngày 10/12/2024: Căn cứ nhận định tại mục [3] và mục [4] nêu trên, xét nguyên đơn yêu cầu là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận; buộc bị đơn ông Hoàng Thế V phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi, phí phát sinh cho V1 kể từ ngày 10/12/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký với V1 ngày 08/6/2021; lãi suất được áp dụng theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký ngày 08/6/2021.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung ngân sách Nhà nước, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sựkhoản 1 Điều 275; các Điều 351; 357; 398; 463; 466; 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N.
Buộc ông Hoàng Thế V có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 09/12/2024 là 28.450.006 đồng (hai mươi tám triệu, bốn trăm năm mươi ngàn không trăm linh sáu đồng), trong đó: nợ gốc 19.831.633 đồng (mười chín triệu tám trăm ba mốt ngàn sáu trăm ba ba đồng), nợ lãi quá hạn và phí phát sinh là 8.618.373 đồng (tám triệu sáu trăm mời tám ngàn ba trăm bảy ba đồng), theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 08/6/2021.
Buộc ông Hoàng Thế V có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10/12/2024 cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP N; mức lãi suất được áp dụng theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng các bên đã ký ngày 08/6/2021.
2. Về án phí: Ông Hoàng Thế V phải chịu 1.422.500 đồng (một triệu bốn trăm hai hai ngàn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung ngân sách Nhà nước.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N 711.000 đồng (bẩy trăm mười một ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000546 ngày 09/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sựthời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký đóng dấu) Hoàng Thị Thanh |
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam khởi kiện ông Hoàng Thế Vinh về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng (thẻ tín dụng)
