|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/DS-ST.
Ngày 13/3/2025.
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nhan Ngọc Đăng.
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Xuân Tạo và ông Nguyễn Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Gio Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần () Bưu điện L (nay là Ngân hàng TMCP L1); địa chỉ: số B đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
- + Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Hoàng Kim C - Chuyên viên xử lý nợ - Ngân hàng TMCP L - Chi nhánh tỉnh Q; địa chỉ: số G, Quốc lộ I, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - là người đại diện theo ủy quyền (Quyết định ủy quyền số 1036/2024/QĐ-QT ngày 22/7/2024). Có mặt.
- - Bị đơn: anh Trần Hải K, sinh năm: 1994; địa chỉ: Khu phố F, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 14/6/2022, Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Q ký Hợp đồng tín dụng số HĐTD46020220484 (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) với ông Trần Hải K, số tiền cấp tín dụng 1.300.000.000 đồng; thời hạn vay 240 tháng, lãi suất 7,5%/năm, áp dụng lãi suất theo phương thức cố định trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày bên vay bắt đầu nhận nợ, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm tính trên nợ lãi tương ứng với thời gian chậm trả. Ngày 15/6/2022, Ngân hàng đã giải ngân số tiền trên theo hợp đồng.
Để đảm bảo khoản vay trên anh K ký với Ngân hàng TMCP L Hợp đồng thế chấp số HĐTC46020220406 ngày 14/6/2022 (gọi là Hợp đồng thế chấp tài sản), tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (GCNQSDĐ) số CH 020157 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 10/01/2017, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS00009, chuyển nhượng cho ông Trần Hải K ngày 25/4/2022 tại thửa đất số 1882, tờ bản đồ số 17, thuộc thôn T, xã V (nay là xã H) huyện V, tỉnh Quảng Trị.
Sau khi vay vốn, bị đơn đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi như cam kết trong các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Toàn bộ khoản vay đã quá hạn kể từ ngày 10/12/2023 nhưng anh K vẫn không thực hiệc việc tất toán khoản vay mà cố tình trốn tránh trả nợ.
Tính đến ngày 22/7/2024, anh K có nghĩa vụ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP L với tổng số tiền 1.319.566.100 đồng, trong đó tiền gốc 1.207.809.948 đồng, tiền lãi 107.867.325 đồng, tiền lãi quá hạn 3.888.827 đồng.
Vì vậy, Ngân hàng TMCP L khởi kiện yêu cầu Toà án buộc anh K phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ 1.319.566.100 đồng, trong đó tiền gốc 1.207.809.948 đồng, tiền lãi 107.867.325 đồng, tiền lãi quá hạn 3.888.827 đồng, đồng thời bị đơn phải có trách nhiệm trả khoản lãi phát sinh sau ngày 22/7/2024 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP L khởi kiện yêu cầu Toà án buộc anh K phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ 1.445.109.036 đồng, trong đó tiền gốc 1.207.809.948 đồng, tiền lãi 212.164.943 đồng, tiền lãi quá hạn 25.133.145 đồng, đồng thời bị đơn phải có trách nhiệm trả khoản lãi phát sinh từ ngày 14/3/2025 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Nếu anh K không trả nợ hoặc chỉ trả được một phần khoản nợ thì Ngân hàng TMCP L được quyền yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất, tài sản trên đất tại thửa đất số 1882, tờ bản đồ số 17, thuộc thôn T, xã H, huyện V. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP L theo Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký.
Về phía bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng bị đơn đều không có ý kiến liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn cũng như không tham gia vào các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng là đúng quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, trong quá trình tham gia tố tụng tố tụng và quá trình giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn .
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, 468 của Bộ luật Dân sự, buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP L số tiền là 1.445.109.036 (một tỷ bốn trăm bốn mươi lăm triệu một trăm lẽ chín nghìn không trăm ba mươi sáu) đồng, trong đó số tiền gốc là 1.207.809.948 (một tỷ hai trăm lẻ bảy triệu tám trăm lẻ chín nghìn chín trăm bốn mươi tám) đồng, số tiền lãi là 212.165.943 (hai trăm mười hai triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi ba) đồng, tiền lãi quá hạn 25.133.145 (hai mươi lăm triệu một trăm ba mươi ba nghìn một trăm bốn mươi lăm) đồng (tạm tính đến ngày 13/3/2025). Đồng thời, bị đơn phải có trách nhiệm trả khoản lãi phát sinh cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ thì Ngân hàng TMCP L có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng đã ký kết theo Hợp đồng thế chấp là GCNQSDĐ số CH 020157 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 10/01/2017, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS00009 cho ông Trần Hải K ngày 25/4/2022 tại thửa đất số 1882, tờ bản đồ số 17, thuộc thôn T, xã H, huyện V. Trường hợp nếu đã phát mãi tài sản mà vẫn chưa trả hết nợ thì bị đơn phải tiếp tục thanh toán số tiền còn lại cho đến khi tất toán khoản nợ.
Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 BLTTDS, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về chi phí tố tụng: bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi đến ngày 22/7/2024 là 1.319.566.100 đồng, trong đó tiền gốc 1.207.809.948 đồng, tiền lãi 107.867.325 đồng, tiền lãi quá hạn 3.888.827 đồng, đồng thời bị đơn phải có trách nhiệm trả khoản lãi phát sinh từ ngày 23/7/2024 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số HĐTD46020220484 ngày 14/6/2022. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn anh Trần Hải K có nơi cư trú tại địa chỉ: khu phố F, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Gio Linh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[3]. Về thủ tục tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Gio Linh đã cấp tống đạt hợp lệ Thông báo bổ sung người tham gia tố tụng, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của BLTTDS nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[4]. Về nội dung vụ án:
[4.1]. Xét tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn:
Ngày 14/6/2022, Ngân hàng TMCP L ký kết Hợp đồng tín dụng số HĐTD46020220484 với anh Trần Hải K, số tiền cấp tín dụng 1.300.000.000 đồng; thời hạn vay 240 tháng, lãi suất 7,5%/năm, áp dụng lãi suất theo phương thức cố định trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày bên vay bắt đầu nhận nợ, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm tính trên nợ lãi tương ứng với thời gian chậm trả.
Để đảm bảo khoản các khoản vay này, nguyên đơn và bị đơn đã ký kết Hợp đồng thế chấp số HĐTC46020220406 ngày 14/6/2022, Hợp đồng thế chấp này đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định của pháp luật, tài sản đảm bảo là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (GCNQSDĐ) số CH 020157 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 10/01/2017, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS00009, chuyển nhượng cho ông Trần Hải K ngày 25/4/2022 tại thửa đất số 1882, tờ bản đồ số 17, thuộc thôn T, xã V (nay là xã H) huyện V, tỉnh Quảng Trị.
Xét thấy, chủ thể tham gia ký kết hợp đồng Hợp đồng tín dụng số HĐTD46020220484 ngày 14/6/2022, Hợp đồng thế chấp số HĐTC46020220406 ngày 14/6/2022 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các bên tham gia ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của các Hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 177 Bộ luật Dân sự, thì Hợp đồng tín dụng số HĐTD46020220484 ngày 14/6/2022, Hợp đồng thế chấp số HĐTC46020220406 ngày 14/6/2022 ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn có hiệu lực pháp luật.
[4.2]. Xét việc thực hiện hợp đồng của các bên, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Sau khi ký kết các hợp đồng tín dụng, nguyên đơn đã giải ngân số tiền cho vay theo đúng quy định của các Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Như vậy, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Trong quá trình vay, bị đơn đã thanh toán tiền gốc là 92.190.052 đồng. Đến ngày 10/12/2023, khoản vay của bị đơn đã quá hạn thanh toán tiền lãi. Như vậy, bị đơn đã vi phạm khoản 14, khoản 15 Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 15/6/2022.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, áp dụng Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, 468 của Bộ luật Dân sự, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 1.445.109.036 (một tỷ bốn trăm bốn mươi lăm triệu một trăm lẽ chín nghìn không trăm ba mươi sáu) đồng, trong đó tiền gốc 1.207.809.948 (một tỷ hai trăm lẻ bảy triệu tám trăm lẻ chín nghìn chín trăm bốn mươi tám) đồng, tiền lãi 212.164.943 (hai trăm mười hai triệu một trăm sáu mươi bốn nghìn chín trăm bốn mươi ba) đồng, tiền lãi quá hạn 25.133.145 (hai mươi lăm triệu một trăm ba mươi ba nghìn một trăm bốn mươi lăm) đồng, đồng thời bị đơn phải có trách nhiệm trả khoản lãi phát sinh từ ngày 14/3/2025 đến khi trả hết số nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng hợp đồng tín dụng số HĐTD46020220484 ngày 14/6/2022.
Trong trường hợp anh Trần Hải K không trả nợ hoặc trả không hết nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là diện tích đất 256 m² tại thửa đất số 1882, tờ bản đồ số 17 tại thôn T, xã V (nay là xã H), huyện V tỉnh Quảng Trị được Sở T (TN&MT) tỉnh Quảng Trị cấp GCNQSDĐ số CH 020157 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 10/01/2017, số vào sổ cấp GCN số: CS 00009, chuyển nhượng cho anh Trần Hải K ngày 25/4/2022.
[5]. Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6]. Về chi phí tố tụng: bị đơn anh Trần Hải K phải chịu 2.200.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chổ. Nguyên đơn không phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chổ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 159, khoản 1 và khoản 2 Điều 192; Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 90, Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc bị đơn anh Trần Hải K phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền (tính đến ngày 13/3/2025) là 1.445.109.036 (một tỷ bốn trăm bốn mươi lăm triệu một trăm lẽ chín nghìn không trăm ba mươi sáu) đồng, trong đó số tiền gốc là 1.207.809.948 (một tỷ hai trăm lẻ bảy triệu tám trăm lẻ chín nghìn chín trăm bốn mươi tám) đồng, số tiền lãi là 212.165.943 (hai trăm mười hai triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi ba) đồng, tiền lãi quá hạn 25.133.145 (hai mươi lăm triệu một trăm ba mươi ba nghìn một trăm bốn mươi lăm) đồng.
Từ ngày 14/3/2025 cho đến khi trả hết số nợ vay, anh Trần Hải K phải tiếp tục trả lãi theo lãi suất quy định tại Hợp đồng hợp đồng tín dụng số HĐTD46020220484 ngày 14/6/2022.
Trường hợp anh Trần Hải K không trả nợ hoặc chỉ trả được 01 phần thì Ngân hàng TMCP L (nay là Ngân hàng TMCP L1) có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm là diện tích đất 256 m² tại thửa đất số 1882, tờ bản đồ số 17 tại thôn T, xã V (nay là xã H), huyện V tỉnh Quảng Trị được Sở T (TN&MT) tỉnh Quảng Trị cấp GCNQSDĐ số CH 020157 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 10/01/2017, số vào sổ cấp GCN số: CS 00009, chuyển nhượng cho anh Trần Hải K ngày 25/4/2022.
Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp mà không thu đủ nợ thì khoản nợ còn lại anh anh Trần Hải K có trách nhiệm tiếp tục thanh toán.
[2]. Về án phí: bị đơn anh Trần Hải K phải chịu 55.353.271 (năm mươi lăm triệu ba trăm năm mươi ba nghìn hai trăm bảy mươi mốt) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP L (nay là Ngân hàng TMCP L1) số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 25.793.492 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/2023, số 0000282 ngày 02/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
[3]. Về chi phí tố tụng: anh Trần Hải K phải chịu 2.200.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chổ. Anh Trần Hải K có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP L (nay là Ngân hàng TMCP L1) số tiền 2.200.000 đồng mà nguyên đơn đã nộp.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[4]. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nhan Ngọc Đăng |
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP L1 và Trần Hải K tranh chấp hợp đồng tín dụng
