Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN XƯƠNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/DS-ST.

Ngày: 10-4-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng đặt CỌC.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Kim Oanh; bà Nguyễn Thị Như Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 26/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXX-ST ngày 25/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-DS ngày 21/3/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Tạ Hữu H, sinh năm 1989

    Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962 và ông Lưu Xuân H1, sinh năm 1948

    Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Lưu Văn H2, sinh năm 1992
    2. Chị Lưu Thị H3, sinh năm 1991

    Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

(Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Nguyễn Thị T).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*) Tại đơn khởi kiện, lời khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, thì Nguyên đơn là anh Tạ Hữu H trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:

Ngày 04 tháng 11 năm 2022 (đúng ra là ngày 11/4/2022, do anh viết nhầm thành ngày 04/11/2022), qua môi giới của bà Đỗ Thị L, anh mua mảnh đất của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962 cư trú tại thôn N ,xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình. Theo thông tin của bà L và bà T thì thửa đất trên có chiều ngang là 15m, và chiều dài là 20m, tổng diện tích là 300m², cạnh thửa đất 46, tờ bản đồ số 03 là thửa đất ở của gia đình bà T đã đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời điểm đó, thửa đất mới có trích lục và hồ sơ đang làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, đã có hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận, có đầy đủ chữ kí và thủ tục, dấu xác nhận của UBND xã H với hiện trạng là đất vườn sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà T cam kết sẽ chuyển mục đích sử dụng và nộp thuế thành đất ở nông thôn.

Bà Nguyễn Thị T chuyển nhượng thửa đất đó sau khi đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển mục đích thành đất ở nông thôn cho anh với giá 950.000.000 (Chín trăm năm mươi triệu đồng chẵn) và cam kết sau 90 ngày kể từ thời điểm đặt cọc sẽ bàn giao toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn thửa đất trên với diện tích là 300m². Qua thông tin là thửa đất trên có nguồn gốc đất trên sổ mục kê, bản đồ 04 của UBND xã H, là của vợ chồng bà T và ông H1 với hiện trạng là đất vườn, chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang trong thời gian xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vườn, sau đó sẽ chuyển đổi thành đất ở nông thôn. Anh đã làm hợp đồng đặt cọc ngày 11/4/2022 tại nhà bà T, với số tiền là 200.000.000 (Hai trăm triệu đồng) và sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại là 750.000.000 (B trăm năm mươi triệu) khi bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất cho anh để làm thủ tục chuyển nhượng. Anh đã đưa cho bà L 200.000.000 đồng để bà L giao cho ông H1 và bà T, bà T nhận đủ số tiền trên, trong Hợp đồng đặt cọc có chữ kí của anh bên đặt cọc là Tạ Hữu H, bà Đỗ Thị L là người làm chứng và bên nhận tiền đặt cọc là bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1 là chồng bà T, đều có điểm chỉ vân tay.

Đến nay đã quá thời hạn hợp đồng 02 năm, anh không nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất như đã thỏa thuận, rất nhiều lần anh tìm gặp bà T để đề nghị bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc trả lại số tiền anh đã đặt cọc nhưng bà T và ông H1 từ chối trả tiền, từ chối thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có nhiều lời lẽ thách thức, chửi bới không chịu trả tiền. Bà L cũng đã gặp và nói chuyện với gia đình bà T để lấy lại tiền giúp anh cũng bị bà T chửi bới lăng mạ và nói không trả.

Hiện nay, bà T và ông H1 đã tách diện tích đất trên thành 2 thửa đất,có số thửa là 355 tờ bản đồ 23 có diện tích là 153m² cho con gái là chị Lưu Thị H3 và thửa 356 tờ bản đồ số 23, với diện tích là 170,1m² cho con trai là anh Lưu Văn H2, 02 thửa đất trên đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Như vậy, bà T và ông H1 đã không thực hiện nghĩa vụ như đã thỏa thuận với anh trong Hợp đồng đặt cọc giữa hai bên như đã thoả thuận. Do đó, anh yêu cầu bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1 phải trả anh số tiền đã đặt cọc là 200.000.000 đồng và 600.000.000 đồng tiền phạt do vi phạm hợp đồng đã thỏa thuận trong Hợp đồng đặt cọc ngày 11/4/2022 mà hai bên đã ký kết, tổng số tiền là 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng chẵn). Anh không yêu cầu lãi của số tiền trên.

*) Bị đơn là bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1 trình bày:

Ngày 11/4/2022, ông bà có bán mảnh đất có diện tích 300m² cho anh H với giá 950.000.000 đồng, anh H thống nhất đặt cọc cho ông bà số tiền 200.000.000 đồng, hai bên cam kết chung nếu ông bà không bán cho anh H thì phải bồi thường gấp 03 lần số tiền đặt cọc. Trước khi bán đất ông bà không hề quen biết anh H mà thông qua chị Đỗ Thị L là người môi giới, giới thiệu anh H đến mua, sau khi nhận tiền đặt cọc, ông bà trả cho chị L 20.000.000 đồng tiền công môi giới, số tiền lại ông bà dùng để trả ngân hàng và đến Ủy ban nhân dân xã H để làm thủ tục để được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của diện tích đất trên. Do cán bộ nhà nước làm chậm nên đến ngày 30/8/2023 gia đình ông bà mới nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất trồng cây lâu năm, gia đình ông bà phải làm chuyển đổi mục đích từ đất trồng cây lâu năm sang thành đất ở. Ông bà đến Ủy ban nhân dân huyện K và được hướng dẫn phải đăng ký chuyển mục đích mảnh đất thì sang năm mới làm được. Đến hết quý I năm 2024, ông bà được biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ gia đình không làm được, để chuyển mục đích thì phải sang tên cho con thì mới hợp pháp. Vì vậy, ông bà đã làm thủ tục tách thửa cho con trai là Lưu Văn H2 đứng tên mảnh đất có diện tích là 170,1m², con gái là Lưu Thị H3 đứng tên mảnh đất có diện tích 153m². Đến ngày 08/8/2024 gia đình ông bà đến Ủy ban nhân dân huyện K, đến Ủy ban nhân dân xã H để đề nghị làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất của 02 diện tích đất của chị H3 và anh H2 thì UBND xã trả lời là huyện chưa có người làm. Còn mảnh đất 300m² ông bà khẳng định diện tích mảnh đất đã hợp đồng vẫn bán cho anh H, không có gì thay đổi.

*) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lưu Thị H3 và anh Lưu Văn H2 trình bày: Anh, chị hoàn toàn đồng ý chuyển nhượng mảnh đất cho anh Tạ Hữu H nên đã ủy quyền cho bố mẹ là ông Lưu Xuân H1 và bà Nguyễn Thị T được toàn quyền thực hiện các thủ tục. Anh, chị ủy quyền cho mẹ là bà Nguyễn Thị T tham gia tố tụng tại Tòa án và giải quyết vụ án.

*) Bà Đỗ Thị L trình bày: Bà và anh H là bạn bè quen biết ngoài xã hội, do bà có thông tin về việc bà T và ông H1 có diện tích khoảng 300m² đất đang làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất muốn chuyển nhượng nên bà đã giới thiệu cho anh H. Ngày 11/4/2022, bà cùng anh H đến nhà bà T gặp bà T và ông H1 để anh H xem đất và thỏa thuận việc chuyển nhượng đất. Việc anh H và bà T, ông H1 thỏa thuận về việc chuyển nhượng đất cụ thể như thế nào thì bà không nhớ rõ. Sau khi thỏa thuận, anh H viết Hợp đồng đặt cọc và giao cho bà T, ông H1 200.000.000 đồng tiền mặt, bà T và ông H1 đã nhận đủ tiền, sau khi anh H viết xong hợp đồng đặt cọc, bà T và ông H1 đã đọc nội dung, điểm chỉ và ký tên vào Hợp đồng, bà cũng điểm chỉ và ký tên. Hợp đồng đặt cọc do anh H viết thành 3 bản, anh H giữ hai bản, bà T và ông H1 giữ 01 bản. Từ đó đến nay công việc bận mải và việc giới thiệu chuyển nhượng đất đã xong nên bà không biết sự việc tiếp theo như thế nào.

*) Phòng Nông nghiệp và Môi trường - Ủy ban nhân dân huyện K cung cấp thông tin như sau:

  • Qua kiểm tra danh mục công trình, dự án trong quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 huyện K đã được UBND tỉnh T phê duyệt tại Quyết định số 3014/QĐ-UBND ngày 01/12/2021 thì trong giai đoạn 2022-2030 toàn xã H được chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng lúa sang đất ở là 1,5ha (không có danh mục chuyển mục đích từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở). Thửa đất số 291, tờ bản đồ số 23, có diện tích 323,1m², loại đất trồng cây lâu năm tại thôn N, xã H, huyện K chưa có đủ căn cứ để xác định thửa đất có đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng sang đất ở.
  • Nhà nước không quy định chủ sử dụng đất phải tách thửa cho các con thì mới đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất.
  • Thửa đất 355 và 356, tờ bản đồ số 23 tại thôn N, xã H, huyện K là 02 thửa được tách ra từ thửa số 291, tờ bản đồ số 23 chưa có đủ căn cứ xác định đủ điều kiện để chuyển mục đích sử dụng sang đất ở.

*) Tại phiên tòa:

  • Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại số tiền đã đặt cọc là 200.000.000 đồng và rút yêu cầu bị đơn phải bồi thường số tiền 600.000.000 đồng phạt do vi phạm hợp đồng.
  • Bị đơn không đồng ý trả lại nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng đã nhận vì đã sử dụng số tiền trên để chữa bệnh và trả nợ ngân hàng nên không có tiền, bị đơn đề nghị trả bằng quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm tương đương với số tiền đã nhận.

*) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa giải quyết vụ án dân sự:

  1. Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn và bị đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 385, 408 và 131 Bộ luật dân sự; căn cứ vào Điều 217 và Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 24, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    1. Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 11/4/2022 giữa anh Tạ Hữu H với bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1 là vô hiệu.
    2. Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1 phải trả lại anh Tạ Hữu H số tiền đã đặt cọc là 200.000.000 đồng.
    3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của anh H yêu cầu bà T và ông H1 phải trả số tiền phạt cọc là 600.000.000 đồng.
    4. Về án phí: Anh H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sưh sơ thẩm cho bà T và ông H1.
    5. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T tham gia tố tụng; nguyên đơn và bị đơn có mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự: Tòa án xét xử trong trường hợp nguyên đơn và bị đơn có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét hợp đồng đặt cọc giữa nguyên đơn là anh Tạ Hữu H với bị đơn là bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1, Hội đồng xét xử thấy: Ngày 04/11/2022, anh Tạ Hữu H (bên A) và bà Nguyễn Thị T, ông Lưu Xuân H1 (bên B) giao kết hợp đồng đặt cọc, với nội dung: Bà T và ông H1 chuyển nhượng cho anh H thửa đất có diện tích 300m², cạnh lô số 46, tờ bản đồ số 03 tại thôn N, xã H, huyện K (ngang 15m, sâu 20m, chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) với số tiền là 950.000.000 đồng, anh H đặt cọc 200.000.000 đồng, bà T và ông H1 đã nhận đủ 200.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận thời hạn đặt cọc là 90 ngày kể từ ngày 11/4/2022 đến 17 giờ ngày 11/7/2022, bà T và ông H1 nhận đủ tiền cọc sẽ cùng anh H làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi thủ tục công chứng hoàn tất, anh H phải giao đủ số tiền còn lại cho bà T và ông H1; Thỏa thuận về thuế, phí sẽ do anh H nộp; anh H đặt cọc và chờ bà T và ông H1 làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 300m² là đất ở; bà T và ông H1 có trách nhiệm làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao cho anh H. Hai bên còn thỏa thuận là đất không tranh chấp và bàn giao sớm nhất, cam kết giao ngõ 3m từ chắn sóng (chắn đê) vào; sau khi hợp đồng được ký kết, quá thời hạn thỏa thuận trên nếu bà T và ông H1 không bán, chuyển nhượng tài sản đặt cọc trên cho anh H thì bà T và ông H1 phải bồi thường cho anh H gấp ba lần số tiền mà anh H đã đặt cọc; ngược lại nếu anh H không mua thì phải chịu mất số tiền đặt cọc trên. Mặc dù Hợp đồng đặt cọc có sự nhầm lẫn về bên A, bên B, thời gian đặt cọc nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử khẳng định: Ngày 11/4/2022, anh H đã đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng cho bà T và ông H1 (bà T, ông H1 đã nhận đủ), thời hạn đặt cọc là 90 ngày từ ngày 11/4/2022 đến 11/7/2022 để chuyển nhượng 300m² đất, bà T và ông H1 có trách nhiệm chuyển đổi diện tích đất trên từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở.

[2.2] Tại văn bản của Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện K trả lời: Trong giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2030 toàn xã H được chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa sang đất ở là 1,5ha (không có danh mục chuyển mục đích từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở). Như vậy, thửa đất số 291, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: thôn N, xã H, huyện K, diện tích 323,1m² đất trồng cây lâu năm cấp cho hộ gia đình ông Lưu Xuân H1 và bà Nguyễn Thị T (nay đã được tách thành hai thửa là thửa số 355, tờ bản đồ số 23, diện tích 153m² đất trồng cây lâu năm mang tên chị Lưu Thị H3 và thửa số 356 tờ bản đồ số 23, diện tích 170,1m² đất trồng cây lâu năm mang tên anh Lưu Văn H2) không thuộc diện được chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở, thời điểm giao kết hợp đồng đặt cọc (ngày 11/4/2022) thì hợp đồng có đối tượng (đất ở) không thể thực hiện được. Do đó căn cứ vào Điều 131, Điều 408 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử xác định Hợp đồng đặt cọc ngày 11/4/2022 giữa anh Tạ Hữu H và bà Nguyễn Thị T, ông Lưu Xuân H1 là vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu buộc bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1 phải trả lại anh Tạ Hữu H số tiền đã đặt cọc là 200.000.000 đồng.

[2.3] Khi giao kết hợp đồng đặt cọc, cả hai bên đều biết diện tích 300m² là đất trồng cây lâu năm, cả hai bên đều có lỗi trong việc không xác minh, tìm hiểu kỹ khả năng chuyển mục đích sử dụng đất thành đất ở trước khi ký hợp đồng đặt cọc dẫn đến hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được. Mặt khác, bà T và ông H1 đã nhận tiền đặt cọc của anh H đến nay gần 3 năm nhưng không thực hiện đúng cam kết về thời gian đặt cọc và điều kiện đặt cọc, sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã không thực hiện thủ tục đề nghị chuyển đổi mục đích sử dụng đất mà lại tiến hành tách thửa đất cho 02 con, chưa tiến hành thủ tục đề nghị chuyển đổi mục đích sử dụng đất, bà T và ông H1 được chiếm dụng và hưởng lợi từ số tiền anh H đã đặt cọc. Do đó, lỗi của bà T, ông H1 trong việc Hợp đồng đặt cọc bị vô hiệu nhiều hơn nên bà T và ông H1 phải bồi thường thiệt hại cho anh H theo quy định tại Khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa, anh H rút yêu cầu bà T và ông H1 phải bồi thường cho anh số tiền 600.000.000 đồng, xét thấy, việc rút yêu cầu này của anh H là hoàn toàn tự nguyện, không trái luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết.

[3] Về án phí:

[3.1] Do yêu cầu khởi kiện của anh H được chấp nhận nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, trả lại anh H số tiền tạm ứng án phí đã nộp

[3.2] Bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên áp dụng điểm đ Khoản 1 Điều 12 và Điều 13 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà T và ông H1.

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147; Điều 217; Điều 228; Điều 235; điều 271; điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều 131; Điều 385; Điều 408 và Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; áp dụng điểm đ Khoản 1 Điều 12; Điều 13; Điều 24; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 11/4/2022 giữa anh Tạ Hữu H với bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1 là vô hiệu.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1 phải trả lại anh Tạ Hữu H số tiền đã đặt cọc là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).
  3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của anh Tạ Hữu H về việc yêu cầu bà T và ông H1 phải bồi thường số tiền 600.000.000 đồng.
  4. Về án phí:
    1. Anh Tạ Hữu H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, trả lại anh H số tiền 18.000.000 tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0002294 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
    2. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị T và ông Lưu Xuân H1.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/4/2025; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Kiến Xương;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Xương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hồng Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 04/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Hữu Huấn - Nguyễn Thị Tươi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger