1
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/DS-PT |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Các thẩm phán: Ông Lê Văn Duy
Ông Thái Văn Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Thanh Trúc- Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về “Không công nhận vợ chồng, chia tài sản chung”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 416/2024/HNGĐ-ST ngày 23-9-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Tăng Văn T, sinh năm 1961
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố E, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định; có mặt
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố E, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định; có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H là ông Lâm Thanh T1 - Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Tăng Thị Ngọc L, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ A, Khu phố E, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định; có mặt.
Phòng C tỉnh Bình Định
2
Đại diện theo pháp luật: Ông Mai Hữu H1, Trưởng phòng; vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Tăng Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Tăng Văn T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị H sống chung như vợ chồng từ năm 1991 nhưng không đăng ký kết hôn. Nay yêu cầu tòa không công nhận ông với bà H là vợ chồng.
Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị H có 03 con chung là: Tăng Thị Ngọc L, sinh ngày 15/5/1992, Tăng Thị Mỹ D, sinh ngày 15/6/1994 và Tăng Nhật T2, sinh ngày 02/5/2000. Các con đã trưởng thành không yêu cầu tòa giải quyết.
Về tài sản chung: Ông và bà H có sửa chữa ngôi nhà của mẹ ông, vật dụng trong nhà. Ly hôn tài sản chia hai.
Nợ chung: không có, không yêu cầu.
Sau khi nhận đất từ anh em của ông thì bà H có đưa cho ông 27.000.000 đồng và 9.240.000 đồng để chuyển mục đích sử dụng đất. Ông có chuyển nhượng một phần đất cho người khác, không nhớ rõ tên gì.
Nay bà H yêu cầu chia nhà đất ông có ý kiến như sau:
Về đất ông được nhận thừa kế riêng không phải là đất cấp cho hộ gia đình.
Ngôi nhà là của mẹ ông thừa kế riêng, vợ chồng chỉ bỏ ra 24.000.000 đồng để sửa chữa nhà như hiện nay.
Còn về ngôi nhà trọ là do ông bán đất lấy tiền xây nhà trọ, đồng ý chia 2 số tiền vợ chồng chi phí chuyển mục đích sử dụng đất.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà và ông T sống với nhau từ năm 1991 đến nay, không có đăng ký kết hôn như ông T trình bày là đúng.
Về con chung: Bà và ông T có 03 con chung như ông T trình bày và đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung:
- Vợ chồng có bỏ ra 80.000.000 đồng để chuyển mục đích sử dụng đất.
- Ngôi nhà là tài sản chung vợ chồng chứ không phải là của mẹ chồng.
- Bà là thành viên sử dụng đất trong hộ gia đình mẹ chồng đại diện bà Trương Thị B. Tại thời điểm cân đối giao quyền theo Nghị định số 64/Cp của chính phủ thì hộ gia đình gồm có 04 nhân khẩu là: mẹ chồng cụ Trương Thị B, ông Tăng Văn T, bà Nguyễn Thị H và con là Tăng Thị Ngọc L. Lúc đó, Nhà nước cân đối giao quyền 03 thửa đất số 460, 463, 351 cùng tờ bản đồ số 03 (bản đồ năm 1997) đứng tên cụ Trương Thị B.
3
Thửa đất số 351, tờ bản đồ số 03 phường T đã được thu hồi làm xí nghiệp may nên không có tranh chấp. Hai thửa đất còn lại là sau khi mẹ chồng chết (năm 2002), năm 2005 thì gia đình chồng lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản cả 3 thửa đất trên cho chồng (ông T) đứng tên. Việc lập thỏa thuận phân chia này là không đúng vì chưa có sự đồng ý của bà và con gái là Tăng Thị Ngọc L. Nay bà và anh T không chung sống với nhau được nên yêu cầu chia phần đất hộ gia đình cho bà, yêu cầu chia đất để có nơi ở ổn định.
Nợ chung: không có, không yêu cầu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Tăng Thị Ngọc L trình bày: Chị là con ông T bà H, là thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất bà nội là Trương Thị Bán đứng T3 chủ hộ. Tại thời điểm cân đối giao quyền theo Nghị định số 64/CP của chính phủ thì hộ gia đình bà nội gồm có 04 nhân khẩu là Trương Thị B, Tăng Văn T, Nguyễn Thị H và Tăng Thị Ngọc L. Lúc đó, Nhà nước cân đối giao quyền 03 thửa đất số 460, 463, 351 cùng tờ bản đồ số 03 tại phường T, H.
Thửa đất số 351, tờ bản đồ số 03 phường T đã được thu hồi làm xí nghiệp may nên không có tranh chấp. Hai thửa đất còn lại sau khi bà nội Trương Thị B chết (năm 2002), năm 2005 thì các cô chú lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản cả 3 thửa đất trên cho cha chị đứng tên. Việc lập thỏa thuận này chưa có sự đồng ý của chị và mẹ là bà Nguyễn Thị H. Nay ba và mẹ không chung sống với nhau được nữa, yêu cầu chia phần đất hộ gia đình cho chị, chia bằng đất để có nơi ở ổn định, phần đất chị được chia giao hết cho mẹ là bà Nguyễn Thị H được quyền quản lý sử dụng.
Đối với số tiền mà chị đã tạm ứng chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, giao hết cho mẹ, đề nghị tòa án giải quyết theo quy định.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Phòng C1 tỉnh Bình Định trình bày: Ngày 11/01/2005, tại Phòng công chứng số B tỉnh Bình Định, công chứng viên của Phòng đã ký chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản số 46, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD giữa các ông bà Tăng Thị V, Tăng Sỹ A, Tăng Thị T4, Tăng Văn T và Tăng Thị L1 về việc phân chia di sản của cụ Trương Thị B.
Tại thời điểm ký hợp đồng, các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Việc ký kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc. Trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản không có tên bà Nguyễn Thị H và Tăng Thị Ngọc L là các thành viên trong hộ gia đình cụ Trương Thị Bán
Nay giữa các bên có tranh chấp liên quan đến Văn bản thỏa thuận phân chia di sản này, Phòng C tỉnh Bình Định không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử theo đúng quy định pháp luật.
Vì điều kiện công việc, đại diện Phòng công chứng số B tỉnh Bình Định yêu cầu tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
4
Bản án dân sự sơ thẩm số: 416/2024/HNGĐ – ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 53, 92, 93, 94, 95, 97, 98 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 của Quốc hội khóa 10.
Căn cứ các Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: không công nhận ông Tăng Văn T và bà Nguyễn Thị H là vợ chồng.
- Về con chung: có 03 con chung tên Tăng Thị Ngọc L, sinh ngày 15/5/1992, Tăng Thị Mỹ D, sinh ngày 15/6/1994, Tăng Nhật T2, sinh ngày 02/5/2000. Các con đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét.
- Về tài sản chung:
Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Tăng Văn T về yêu cầu chia tài sản chung giữa ông và bà Nguyễn Thị H.
Chấp nhận yêu cầu của bà Tăng Thị Ngọc L về yêu cầu chia tài sản chung hộ gia đình cụ Trương Thị B.
3.1 Giao cho Tăng Văn T
quyền sử dụng một phần thửa đất số 194, tờ bản đồ số 30 (VN B) phường T có kích thước và giới cận như sau:
Đông giáp: đường đi, thừa 192, 193 dài: 12m; 2,68m; 4,62m; 10,9m; 3,49m; 2,62m;
Tây giáp thửa 158 dài: 10,54m; 22, 13m
Nam giáp phần đất còn lại cùng thửa dài 49,05m
Bắc giáp thửa 193, đường đi dài: 19,99m; 18,54m; 6,47m
Diện tích 1.307,7m² (trong đó có 295m² đất ở, 1.012,7m² đất trồng cây lâu năm) cùng toàn bộ tài sản có trên đất.
3.2 Giao cho bà Nguyễn Thị H
quyền sử dụng một phần thửa đất số 194, tờ bản đồ số 30 (VN B) phường T có kích thước và giới cận như sau:
Đông giáp: đường đi dài: 0,44m, 3,37m; 2,92m; 4,50m
Tây giáp thửa 158 dài: 4m
Nam giáp thửa 172 dài 51,65m
Bắc giáp phần đất còn lại cùng thửa dài: 49,05m
5
Diện tích 377,5m² (trong đó có 95m² đất ở, 282,5m² đất trồng cây lâu năm) cùng toàn bộ tài sản có trên đất.
3.3 Giao cho bà Nguyễn Thị H
quyền sử dụng một phần thửa đất số 172, tờ bản đồ số 30 (VN B) phường T có kích thước và giới cận như sau:
Đông giáp: đường đi dài: 29,03m
Tây giáp thửa 158 dài: 10,48m
Nam giáp đường đi dài 20,99m; 14,62m; 21,47m
Bắc giáp thửa 194 dài: 51,65m
Diện tích 1002,5m² đất công nghiệp cùng toàn bộ tài sản có trên đất.
Tất cả có sơ đồ chi tiết kèm theo.
3.4 Buộc ông Tăng Văn T
thối cho bà Nguyễn Thị H số tiền: 290.464.700 đồng.
- Về nợ chung: không có.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/10/2024 nguyên đơn ông Tăng Văn T kháng cáo không đồng ý chia đất của bản án dân sự sơ thẩm số: 416/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Tăng Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo, cụ thể: Không đồng ý chia quyền sử dụng thửa đất số 172 và thửa đất số 194, tờ bản đồ 30, tại phường T, thị xã H cho bà Nguyễn Thị H và con là Tăng Thị Ngọc L. Lý do, thửa đất số 172 và thửa đất số 194 là tài sản được thừa kế của mẹ ông là bà Trương Thị B, không phải tài sản chung.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H là ông Lâm Thanh T1 trình bày: Tại thời điểm xét xử phúc thẩm bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi, nên đề nghị HĐXX miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng, đương sự thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Nguồn gốc thửa đất số 172 và thửa đất số 194, tờ bản đồ 30, tại phường T, thị xã H là thửa 460 và 463, tờ bản đồ 03 được cấp cho hộ bà Trương Thị B theo NĐ 64/CP, thời điểm cấp có 04 nhân khẩu là: Trương Thị B, Tăng Văn T, Nguyễn Thị H và Tăng Thị Ngọc L. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản số: 46, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/01/2005 để lại toàn bộ diện tích đất các thửa trên cho ông T mà không có sự đồng ý của bà H chị L về phần diện tích của
6
mình được cấp, Văn bản thỏa thuận chỉ có hiệu lực đối với phần di sản của bà B cho ông T. Do đó, Tòa tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 172 và 194 là tài sản chung, đồng thời chia tài sản chung là có căn cứ.
Do kháng cáo không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Tăng Văn T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn ông Tăng Văn T là trong thời hạn, nên HĐXX xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đại diện Phòng công chứng số 02 tỉnh Bình Định có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử.
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Tăng Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Ông Tăng Văn T và bà Nguyễn Thị H thừa nhận sống chung như vợ chồng từ năm 1991 đến nay không đăng ký kết hôn, nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Còn quyền nghĩa vụ đối với tài sản được giải quyết theo Bộ luật dân sự và pháp luật có liên quan quy định tại Điều 14 và Điều 16 của Luật HN&GĐ năm 2014.
[2.2] Theo Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất ngày 15/10/1993 của bà Trương Thị B, thể hiện: thời điểm đăng ký ruộng đất là 04 nhân khẩu nông nghiệp; tổng diện tích đất đăng ký là 3.002m², gồm các thửa: 460, diện tích 1.272m² (trong đó có 200m² đất ở); thửa 463, diện tích 1.050m² và thửa 351, diện tích 680m² đều cùng tờ bản đồ số 03. Theo đó, hộ bà Trương Thị B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số: 00141.QSDĐ ngày 29/3/1994 của UBND huyện H, với tổng diện tích đất, số thửa và diện tích các thừa như đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất của bà B ngày 15/10/1993.
[2.2] Tại Công văn số: 2862/UBND-TNMT ngày 21/8/2024 của UBND thị xã H, Công văn số: 245/UBND-ĐC ngày 14/8/2024 của UBND phường T, thị xã H, thể hiện: thời điểm đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 3.002m² nêu trên hộ bà Trương Thị B có 04 nhân khẩu là: Trương Thị B, Tăng Văn T, Nguyễn Thị H và Tăng Thị Ngọc L.
[2.3] Sau khi bà Trương Thị B chết, ngày 11/01/2005 những người con của bà B lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản số: 46, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng công chứng số B tỉnh Bình Định, với nội dung phân chia di sản của bà B là toàn bộ diện tích 3.002m² được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho cá nhân ông Tăng Văn T là vượt quá di sản của cụ B để lại theo quy định pháp luật; không có ý kiến của hai thành viên sử dụng trong hộ cụ B là bà Nguyễn Thị H và chị Tăng Thị Ngọc L về phần diện tích của mình được cấp.
7
Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị H và chị Tăng Thị Ngọc L không yêu cầu xem xét tính hợp pháp của văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 11/01/2005, nhưng yêu cầu phân chia phần diện tích đất được cân đối giao quyền trong hộ cụ Trương Thị B theo quy định pháp luật. Phần của chị L được chia giao quyền cho mẹ là bà Nguyễn Thị H quản lý sử dụng.
Thửa 351, tờ bản đồ số 03 bị thu hồi làm xí nghiệp may, không tranh chấp. Còn thửa 460 và 463 cấp đổi theo VN 2000 thành lần lượt là các thửa 172, diện tích 1.002,5m², thửa 194, diện tích 1.685,2m² và thửa 192, 193 được tách ra từ thửa 194 ông T đã chuyển nhượng).
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các thửa đất số 172 và 194, tờ bản đồ số 30 phường T là tài sản chung của ông T, bà H và chị L (trong đó: ông T có phần thừa kế di sản của cụ Trương Thị B). Đồng thời, chia tài sản chung theo phần theo mục đích sử dụng đất (trong đó: bà H được nhận sử dụng phần của chị L được chia) có tính đến công sức đóng góp và thanh toán lại giá trị chênh lệch theo giá của Hội đồng định giá tài sản là đảm bảo quyền lợi các bên, phù hợp quy định tại Điều 212 Bộ luật dân sự.
Về yêu cầu miễn án phí dân sự sơ thẩm của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn, HĐXX thấy rằng: Tại thời điểm xét xử sơ thẩm bà Nguyễn Thị H chưa đủ 60 tuổi. Sau khi xét xử sơ thẩm bà H không kháng cáo, tại phiên tòa người bảo vệ quyền lợi của bà H yêu cầu là quá thời hạn, nên HĐXX không có căn cứ sửa bản án sơ thẩm về phần án phí của bà H.
Cho nên kháng cáo của ông Tăng Văn T và cầu của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn là không có căn cứ, nên HĐXX không chấp nhận; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số: 416/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: ông Tăng Văn T sinh năm 1961 thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm quy định tại Điều 2 của Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bình Định tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 14, 16 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 197, Điều 199, Điều 212 Bộ luật dân sự;
8
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Tăng Văn T; giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số: 416/2024/HNGĐ-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Tăng Văn T được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Quyền, nghĩa vụ thi thành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hiệp |
Thành viên hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |
9
Thái Văn Hà Lê Văn Duy Nguyễn Văn H2
10
Nơi nhận (Alternative list):
-TAND Cấp cao;
- VKSND tỉnh Bình Định;
-Các đương sự;
-Chi cục THADS huyện Tây Sơn;
- TAND huyện Tây Sơn;
-Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Hiệp
11
Thành viên hội đồng xét xửThẩm phán – Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Thanh BìnhLê V1 DuyNguyễn Văn Hiệp
12
Nơi nhận (Alternative list):
- TAND Cấp cao;
- VKSND tỉnh Bình Định;
-Các đương sự;
-Chi cục THADS huyện Tuy Phước;
- TAND huyện Tuy Phước;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Hiệp
13
Thành viên hội đồng xét xửThẩm phán – Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thanh Tuấn Lê Văn DuyNguyễn Văn Hiệp
14
15
Bản án số 04/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về không công nhận vợ chồng, chia tài sản chung
- Số bản án: 04/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận vợ chồng, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản chung
