Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/DS-PT

Ngày: 07/02/2025

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hải

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Tín

Bà Lê Thị Hạng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 2 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXPT –DS ngày 13/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 23/2025/QĐ -PT ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc H - sinh năm 1967

    Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần M, sinh năm 1987; địa chỉ: E P, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Ông M có mặt.

  • Bị đơn:
    1. Bà Lê Thị Thu T, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

      Địa chỉ liên lạc: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

    2. Ông Phan Trọng H1, sinh năm 1973; địa chỉ nơi làm việc: Trại giam A, thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

      Địa chỉ liên lạc: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa và địa chỉ: Thôn Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc H, ông Trần M trình bày:

Năm 2020, gia đình bà Lê Thị Thu T gặp khó khăn trong công việc nên đã đến xin vay tiền của bà Huỳnh Thị Ngọc H. Bà H đã đồng ý cho bà Lê Thị Thu T và ông Phan Trọng H1 vay không lãi suất. Ngày 10/5/2020, bà Lê Thị Thu T ký “Giấy mượn tiền” xác nhận bà T có vay của bà H số tiền 300.000.000 đồng để bà T có vốn làm ăn. Khi lập giấy vay tiền bà T có cam kết với bà H sẽ trả đúng hạn “tôi hứa trong thời gian một năm, tôi sẽ hoàn trả lại đầy đủ với số tiền nói trên. Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật hiện hành”. “Giấy mượn tiền” này, do bà H viết tại nhà bà H, không có ai khác chứng kiến. Chữ ký trên giấy mượn tiền là của bà T, bà T có tự ghi thêm nội dung “Tôi đã đọc kỹ và đồng ý ký tên và tôi đã nhận tiền đủ”. Khi viết giấy mượn tiền bà H giao cho bà T 300.000.000 đồng tại nhà bà H, chỉ có bà H và bà T không có ai chứng kiến. Bà T ký tên là tự nguyện, không ai ép buộc. Tuy nhiên, đến hạn trả nợ ngày 10/5/2021, bà T và ông H1 vẫn chưa trả cho bà Huỳnh Thị Ngọc H số tiền nêu trên. Bà H đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà T, ông H1 trả cho bà số tiền 300.000.000 đồng nhưng bà T, ông H1 vẫn hứa hẹn và không trả tiền cho bà H.

Khi bà T ký giấy mượn tiền không có ông H1 tham gia, ông H1 không ký tên. Việc ông H1 có sử dụng tiền bà T mượn hay không thì bà H không biết nhưng khi bà T mượn tiền thì có nói với bà H là mượn tiền để sinh hoạt cho gia đình nên bà H vẫn yêu cầu ông H1 trả nợ. Hai bên không có thỏa thuận về lãi suất trong giấy mượn tiền. Số tiền bà H cho mượn là tiền riêng của bà, không liên quan đến ai khác. Bà H không giữ giấy tờ gì của bà T.

Nay, Bà H yêu cầu bà Lê Thị Thu T và ông Phan Trọng H1 trả một lần cho bà số tiền nợ gốc: 300.000.000 đồng và nợ lãi tính từ ngày 11/5/2021 đến ngày 10/7/2024 là 37 tháng 29 ngày được tính như sau: Lãi chậm trả = số tiền chậm trả 300.000.000 đồng x 0.83%/tháng x thời gian chậm trả 37 tháng 29 ngày = 94.537.000 đồng nên tổng số tiền bà H yêu cầu trả là 394.537.000 đồng.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lê Thị Thu T trình bày: Giữa bà và bà H không có mối quan hệ họ hàng gì, bà có biết bà H cho vay tiền nên tìm tới bà H để vay. Khoảng năm 2020, bà có vay của bà H 5.000.000 đồng, tiền lãi trả theo ngày, mỗi ngày là 100.000 đồng. Khi vay có làm giấy tờ nhưng bà H giữ. Bà có trả tiền lãi theo ngày cho bà H, bà H đến lấy trực tiếp, bà không có giấy tờ chứng minh. Bà không nhớ rõ thời gian bà đóng tiền lãi hàng ngày cho bà H là bao lâu. Do mùa dịch, không làm ăn buôn bán được, bà không có tiền trả tiền lãi cho bà H nên khoảng tháng 5 năm 2020 bà H có gọi bà qua nhà của bà H và yêu cầu bà ký vào giấy mượn tiền, bà có ký vào giấy mượn tiền, lúc ký bà không đọc nội dung ghi trên giấy là gì, số tiền bao nhiêu. Việc mượn tiền, ký giấy mượn tiền chỉ một mình bà tham gia, ông H1 là chồng bà nhưng hoàn toàn không biết về việc này, ông H1 không ký giấy mượn tiền và cũng không sử dụng tiền bà mượn, bà cũng không sử dụng tiền mượn cho sinh hoạt gia đình vì vợ chồng bà không chung sống với nhau từ lâu. Khi bà H khởi kiện bà mới biết bà H có giữ giấy vay tiền có chữ ký của bà với số tiền là 300.000.000 đồng, bà không giữ giấy tờ gì liên quan đến việc vay tiền. “Giấy mượn tiền” do bà H viết, còn viết tại đâu thì bà không biết, bà H đưa thì bà ký vì bà nghĩ ký giấy mượn 5.000.000 đồng trước đó. Sau khi ký xong bà ra về, bà không nhận số tiền nào cả, không có việc bà H giao cho bà 300.000.000 đồng. Việc ký giấy mượn tiền

không có ai chứng kiến. Bà H cũng không giữ giấy tờ tài sản gì của bà. Từ khi ký giấy mượn tiền tại nhà bà H đến nay, bà và bà H không gặp nhau, còn bà H có gặp ông H1 hay không thì bà không biết. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H, bà chỉ đồng ý trả 5.000.000 đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin bà H không trả tiền lãi.

* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phan Trọng H1 trình bày: Ông và bà Huỳnh Thị Ngọc H không có mối quan hệ gì, từ trước đến nay ông không vay tiền gì của bà H nên không hề có sự việc ông cùng với bà T ký giấy mượn tiền của bà H vào ngày 10/5/2020. Bà H khởi kiện ông là không đúng, ông không đồng ý vì ông không biết bà H là ai, ở đâu. Bà T là vợ ông nhưng vợ chồng không chung sống với nhau đã 6 -7 năm, giữa bà T và bà H có nợ gì không thì ông không biết. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt ông, ông không có ý kiến gì khác.

* Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa đã Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự; Căn cứ Điều 5, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn ông Phan Trọng H1.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Lê Thị Thu T phải trả cho bà Huỳnh Thị Ngọc H 394.537.000 đồng (Ba trăm chín mươi bốn triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quy định chung và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 29/7/2024, Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh nhận được đơn kháng cáo của bà Lê Thị Thu T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Lê Thị Thu T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo với nội dung về thủ tục tố tụng bà cho rằng Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xét xử vắng mặt bà là không đúng quy định của pháp luật vì vi phạm quy định về tống đạt các văn bản tố tụng nên không hợp lệ đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử theo hướng hủy bản án sơ thẩm; Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà phải trả cho bà H số tiền 300.000.000đ là không đúng vì tôi chỉ nợ bà H số tiền 5.000.000đ đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xem xét.

* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ việc để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án.
  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ án đến trước thời điểm nghị án.
  • Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn có đầy đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. cáo nhân dân.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Thu T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh. Do không chấp nhận kháng cáo, căn cứ Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà Lê Thị Thu T phải chịu án phí phúc thẩm dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn còn trong thời hạn luật định của pháp luật nên hợp lệ.

[2] Về nội dung kháng cáo:

[2.1] Xét nội dung kháng cáo về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Thu T trình bày Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xét xử vắng mặt bà là không đúng qui định của pháp luật vì tống đạt các văn bản tố tụng không hợp lệ, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử theo hướng hủy bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh nơi ở hiện tại của bà Lê Thị Thu T, ông Phan Trọng H1 tại Công an xã D; tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết tại nhà của bà Lê Thị Thu T và tại Ủy ban nhân dân xã D các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định tại Điều 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 13/6/2024 bà Lê Thị Thu T vắng mặt không có lý do nên đã hoãn phiên tòa và phiên tòa sơ thẩm ngày 10/7/2024 được tiếp tục mở thì bà Lê Thị Thu T lại vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Lê Thị Thu T là đúng quy định của pháp luật nên nội dung kháng cáo về vi phạm thủ tục tố tụng không chấp nhận.

[2.2] Xét nội dung kháng cáo: Bà Lê Thị Thu T không đồng ý về việc Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh đã buộc B phải trả cho bà Huỳnh Thị Ngọc H số tiền 300.000.000₫ là không đúng vì bà chỉ vay 5.000.000₫ của bà Huỳnh Thị Ngọc H. Hội đồng xét xử xét thấy, theo “Giấy mượn tiền” đề ngày 10/5/2020, bà Huỳnh Thị Ngọc H cho bà Lê Thị Thu T mượn 300.000.000đ (bà T thừa nhận chữ ký trong giấy mượn tiền là do bà ký), thời hạn vay là 12 tháng tính từ 10/5/2020 đến 10/5/2021, không thỏa thuận về lãi suất. Bà Lê Thị Thu T cũng thừa nhận tự ghi dòng chữ “tôi đã đọc kỹ và đồng ý ký tên và tôi nhận đủ

tiền” vào giấy mượn tiền; từ ngày 10/5/2021 cho đến nay, bà T không trả tiền cho bà H là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Bà Lê Thị Thu T cho rằng chỉ vay của bà Huỳnh Thị Ngọc H 5.000.000₫ nhưng chỉ cung cấp cho Tòa án bản photocopy, ngoài ra không có chứng cứ nào khác và bà Huỳnh Thị Ngọc H không thừa nhận nên không có cơ sở để chấp nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn Lê Thị Thu T không đưa ra chứng cứ, tài liệu chứng minh việc bị đơn chỉ mượn số tiền 5.000.000đ như nội dung đơn kháng cáo và lời trình bày tại phiên tòa. Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS - ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh đã tuyên buộc bà Lê Thị Thu T phải trả cho bà Huỳnh Thị Ngọc H 394.537.000đồng (Ba trăm chín mươi bốn triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng) là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật. Do vậy, không có cơ sở để chấp nhận đơn kháng cáo của bà Lê Thị Thu T. Nên giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuy nhiên cấp sơ thẩm không tuyên cụ thể trong số tiền phải trả thì tiền gốc và tiền lãi nên cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà Lê Thị Thu T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 293; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 5, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Thu T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DSST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn ông Phan Trọng H1.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Buộc bà Lê Thị Thu T phải trả cho bà Huỳnh Thị Ngọc H số tiền gốc 300.000.000đ và tiền lãi 94.537.000đ. Tổng cộng là 394.537.000 đồng (Ba trăm chín mươi bốn triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng).

  4. Về án phí:
    • [4.1] bà Lê Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lại thu tạm ứng án
  • phí, lệ phí Tòa án số 0001451 ngày 22/8/2024 của Cục thi hành án tỉnh Khánh Hòa. Như vậy, bà Lê Thị Thu T đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
  • [4.2] bà Lê Thị Thu T phải nộp 19.727.000 đồng (Mười chín triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • [4.3] Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị Ngọc H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 9.350.000₫ (Chín triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001087 ngày 21/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh - Khánh Hòa.

Quy định: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND huyện Diên Khánh;
  • - VKSND huyện Diên Khánh;
  • - Chi cục THADS huyện Diên Khánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Hải

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa phúc thẩm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/DS-PT ngày 07/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 04/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hà - sinh năm 1967 Địa chỉ: Tổ dân phố Đông Môn 3, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Mạnh, sinh năm 1987; địa chỉ: 51 Phan Bội Châu, phường Xương Huân, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ông Mạnh có mặt. - Bị đơn: 1. Bà Lê Thị Thu Thảo, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Phò Thiện, xã Diên Phước, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Địa chỉ liên lạc: Thôn Phước Tuy 2, xã Diên Phước, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt. 2. Ông Phan Trọng Hùng, sinh năm 1973; địa chỉ nơi làm việc: Trại giam A2 Đồng Găng, thôn Thượng, xã Diên Lâm, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger