|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/KDTM-ST Ngày 30-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Vũ Văn Khang
Bà Lý Thị Thiên Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan- Thư ký Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 tháng 7 và ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2024/TLST-KDTM ngày 26 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2024/QĐXXST- KDTM ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 420/TB-TA ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S, địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Văn L, Trưởng phòng G là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023), có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Đức Ư; nơi cư trú: Số A A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng và bà Đoàn Thị Thanh T, địa chỉ hộ khẩu thường trú: Số A C B, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số A L, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng; cùng địa chỉ liên lạc: Số A A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; Ông Ư vắng mặt; bà T có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Minh N, địa chỉ hộ khẩu thường trú: Số A C B, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng, nơi ở hiện nay: Số A L, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng; địa chỉ liên lạc: Số A A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04/01/2024, quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
1. Ngày 07/6/2022, Ngân hàng TMCP S - chi nhánh H1 - Phòng G (sau gọi tắt là Ngân hàng) với ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T có ký kết Hợp đồng tín dụng số [...], hạn mức cấp tín dụng là 17.000.000.000 đồng (mười bảy tỷ đồng), thời hạn cấp tín dụng: 12 tháng; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh; lãi suất vay: Lãi suất cho vay được xác định cho từng lần nhận tiền vay theo quyết định của Ngân hàng tại thời điểm giải ngân và được ghi cụ thể trên từng Giấy nhận nợ. Lãi suất tại Giấy nhận nợ số 08 ngày 31/05/2023 và Giấy nhận nợ số 09 ngày 01/06/2023 là 7,5%/tháng; phương thức tính lãi: Số tiền lãi vay mỗi kỳ là tổng số tiền lãi của các Giấy nhận nợ theo Hợp đồng tín dụng và được tính theo số dư nợ thực tế vào cuối ngày, số ngày thực tế mỗi kỳ nhân với lãi suất cho vay. Thời hạn tính lãi được tính từ ngày giải ngân đến hết ngày liền kề trước ngày hết hạn; kỳ trả lãi: ngày 05 hàng tháng; Phương thức trả nợ: Bên được cấp tín dụng trả hết nợ (bao gồm vốn gốc, lãi và chi phí có liên quan) của từng lần giải ngân theo thời hạn vay được ghi trên từng Giấy nhận nợ tương ứng. Bảo đảm tiền vay: Quyền sử dụng 113 m² đất ở tại đô thị có thời hạn sử dụng lâu dài cùng 01 ngôi nhà ở 04 tầng diện tích xây dựng 113 m², diện tích sàn 452 m² trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại địa chỉ số A L, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng.
Hợp đồng đảm bảo: Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ngày 07/06/2022. Tài sản đảm bảo: Quyền sử dụng 113 m² đất ở tại đô thị có thời hạn sử dụng lâu dài cùng 01 ngôi nhà ở 04 tầng diện tích xây dựng 113 m², diện tích sàn 452 m² trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại địa chỉ số A L, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 415224, số vào sổ cấp GCN số: CH 00086 do Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng cấp ngày 18/11/2013 cho bà Nguyễn Thị Thanh H. Ngày 07/6/2022 Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H - chi nhánh quận H xác nhận chuyển nhượng cho chị Phạm Thị Minh N Nghĩa vụ đảm bảo: Nghĩa vụ đảm bảo tối đa là từ 19.594.000.000 đồng và các khoản phải trả khác được quy định trong Hợp đồng tín dụng và nghĩa vụ phát sinh trong tương lai. Đăng ký giao dịch đảm bảo: Ngày 07/06/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận H, thành phố Hải Phòng.
Sau khi ký kết đầy đủ hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã thực hiện giải ngân cho ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T như sau: Giải ngân số tiền là 7.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 08 ngày 31/05/2023 và số tiền là 10.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 09 ngày 01/06/2023.
Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân đến nay, ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 236.388.500 đồng, trong đó nợ gốc là 0 đồng, nợ lãi là 236.388.589 đồng.
Tuy nhiên kể từ kỳ trả nợ tháng 09/2023 ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tại Ngân hàng, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp, yêu cầu ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T có trách nhiệm thanh toán khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T trả nợ. Tuy nhiên tới nay ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay đến hạn, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Tính đến ngày 03/01/2024, Ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T còn nợ 17.740.269.234 đồng, trong đó: nợ gốc: 17.000.000.000 đồng; lãi trong hạn: 85.472.603 đồng; lãi quá hạn: 651.883.560 đồng; lãi chậm trả lãi: 2.913.071 đồng. Trong đó:
Đối với khoản vay 7.000.000.000 đồng, thì nợ gốc: 7.000.000.000 đồng; lãi trong hạn: 34.102.764 đồng; lãi quá hạn: 269.691.780 đồng; lãi chậm trả lãi: 1.167.903 đồng.
Đối với khoản vay 10.000.000.000 đồng thì nợ gốc: 10.000.00.000 đồng; lãi trong hạn: 51.369.839 đồng; lãi quá hạn: 382.191.780 đồng; lãi chậm trả lãi: 1.745.168 đồng.
2. Ngày 07/06/2022, bà Đoàn Thị Thanh T có ký với Ngân hàng TMCP S – chi nhánh H1 Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Đoàn Thị Thanh T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 1.000.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng thẻ, nhiều kỳ bà Đoàn Thị Thanh T không thanh toán cho Ngân hàng đúng hạn. Do bà Đoàn Thị Thanh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, ngày 16/12/2023 và ngày 26/12/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu chuyển sang quá hạn và Ngân hàng buộc phải chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Đoàn Thị Thanh T (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp, yêu cầu bà Đoàn Thị Thanh T có trách nhiệm thanh toán khoản nợ quá hạn thẻ tín dụng, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà Đoàn Thị Thanh T trả nợ. Tuy nhiên tới nay bà Đoàn Thị Thanh T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay đến hạn, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Toàn bộ số liệu thẻ tín dụng của bà Đoàn Thị Thanh T từ khi được cấp thẻ đến ngày 03/01/2024 chi tiết như sau:
Giao dịch: Nợ phát sinh: 1.627.424.000 đồng; thanh toán: 509.896.400 đồng; dư nợ:1.117.527.600 đồng.
Phí: Nợ phát sinh: 28.229.075 đồng, thanh toán: 28.229.075 đồng; dư nợ: 0 đồng
Lãi trong hạn: Nợ phát sinh: 319.168.815 đồng; thanh toán: 319.168.815 đồng; dư nợ: 0 đồng.
Lãi quá hạn (lãi trong hạn * 150%): 12.326.834 đồng; thanh toán: 0 đồng; dư nợ: 12.326.834 đồng.
Tổng: nợ phát sinh: 1.987.148.724 đồng; thanh toán: 857.294.290 đồng; dư nợ: 1.129.854.434 đồng.
Như vậy, tính đến ngày 03/01/2024, bà Đoàn Thị Thanh T còn nợ tổng số tiền theo 4 thẻ là 1.129.854.434 đồng, trong đó: nợ gốc: 1.117.527.600 đồng; Lãi quá hạn: 12.326.834 đồng.
Yêu cầu khởi kiện:
- Buộc ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 03/01/2024 là 18.870.123.668 đồng, trong đó:
- - Hợp đồng tín dụng: 17.740.269.234 đồng trong đó: nợ gốc: 17.000.000.000 đồng; lãi trong hạn: 85.472.603 đồng; lãi quá hạn: 651.883.560 đồng; lãi chậm trả lãi: 2.913.071 đồng.
- - Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng: 1.129.854.434 đồng, trong đó: nợ gốc: 1.117.527.600 đồng; lãi quá hạn: 12.326.834 đồng.
- Ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng số tiền lãi phát sinh từ ngày 04/01/2024 cho đến khi thực hiện trả hết toàn bộ nợ vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- Trong trường hợp ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T không trả được nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay.
Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Đối với khoản nợ thẻ, Ngân hàng không yêu cầu ông Phạm Đức Ư có nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ thẻ này mà yêu cầu bà Đoàn Thị Thanh T phải trả. Tính đến ngày xét xử 30/7/2024, đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T phải thanh toán số tiền nợ của các Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/6/2022 với số tiền là: 18.845.529.302 đồng, trong đó: Nợ gốc: 17.000.000.000 đồng; lãi trong hạn: 85.472.603 đồng, lãi quá hạn: 1.752.226.027 đồng; lãi chậm trả lãi: 7.830.672 đồng. Buộc bà Đoàn Thị Thanh T phải thanh toán số tiền nợ 4 thẻ tín dụng với tổng số tiền: 1.369.507.904 đồng, trong đó nợ gốc: 1.117.527.600 đồng, nợ lãi quá hạn: 251.980.304 đồng.
Ý kiến của bị đơn bà Đoàn Thị Thanh T trình bày:
Bà và chồng bà là ông Phạm Đức Ư có ký hợp đồng tín dụng năm 2022 để vay khoản tiền 17.000.000.000 đồng thời gian vay là 12 tháng của Ngân hàng. Để đảm bảo cho khoản vay con gái là Phạm Thị Minh N đã thế chấp tài sản là nhà đất gồm quyền sử dụng đất 113 m² và 1 ngôi nhà 4 tầng xây dựng trên đất địa chỉ số A L, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng. Để đảm bảo cho khoản vay 17.000.000.000 đồng và cùng ngày thời điểm ký hợp đồng trên, bà có ký với Ngân hàng sử dụng thẻ tín dụng, hạn mức sử dụng 01 tỷ đồng, tính thời điểm hiện nay bà còn nợ Ngân hàng theo đúng số tiền Ngân hàng khởi kiện. Bà đã nhận được thông báo thụ lý của Tòa án, bà nhất trí với số nợ theo 2 hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng đã ký giữa vợ chồng bà và Ngân hàng, trong đó nợ theo hợp đồng tín dụng là 17.740.269.234 đồng; nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ: 1.129.854.434 đồng. Ngân hàng đã tiến hành đầy đủ giải ngân số tiền vay theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Về tài sản thế chấp, tài sản không thay đổi từ khi thế chấp đến nay, tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ bà không có mặt, bà đồng ý với kết quả thẩm định, đồng ý việc đo vẽ thẩm định từ bên ngoài, bà không có ý kiến gì khác. Từ khi thế chấp đến nay, tài sản thế chấp không có bất cứ giao dịch nào liên quan tài sản này, tài sản vẫn do chị N quản lý sử dụng từ khi thế chấp đến nay. Bà đồng ý yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Tại phiên tòa, bà Đoàn Thị Thanh T bổ sung ý kiến đối với số nợ thẻ tín dụng thì Ngân hàng cần tách ra cụ thể nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phí.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông Phạm Đức U và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị Minh N nhưng đều vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/3/2024 kèm sơ đồ hiện trạng do Công ty TNHH T1 thực hiện đo vẽ thể hiện: Thời điểm thẩm định chủ nhà khóa cửa nên tiến hành xem xét thẩm định từ bên ngoài, thửa đất số 59 tờ bản đồ số 02 tại địa chỉ số A phố L, phường P, quận H thành phố Hải Phòng phía Bắc giáp mặt đường của đường L, phía Đông giáp với hộ bà Lê Thị Y, phía Nam giáp ngõ I P, phía Tây giáp hộ ông L1, có diện tích hiện trạng sử dụng: 117 m², trên đất có 01 ngôi nhà xây 04 tầng kết cấu sàn, mái bê tông cốt thép, tường gạch, diện tích sàn là 480,3 m².
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/6/2024 thể hiện: Do chủ nhà không mở cửa nên không thể tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ được. Ý kiến của đại diện Văn phòng Đ chi nhánh quận H, thành phố Hải Phòng: Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất năm 2013 thì trên diện tích đất này đã có 01 nhà 04 tầng xây hết đất.
Theo kết quả xác minh đối với Tổ trưởng Tổ dân phố thể hiện: Nhà và đất tại địa chỉ 169 L là do chị Phạm Thị Minh N đang quản lý sử dụng. Nhà thường xuyên đóng cửa và hiện không có ai thuê, mượn. Hiện trạng nhà, đất vẫn giữ nguyên từ khi xây dựng đến nay, nhà 04 tầng xây dựng vào khoảng năm 2011-2012.
Theo kết quả xác minh Ủy ban nhân dân phường P cung cấp: Hiện trạng nhà, đất không thay đổi so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đã cấp ngày 18/11/2013 và công trình nhà ở không thay đổi về mốc giới, ranh giới cũng như không thay đổi về hiện trạng công trình là nhà 4 tầng so với thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đã cấp ngày 18/11/2013, quá trình sử dụng đất đến nay không có tranh chấp với hộ liền kề.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn bà Đoàn Thị Thanh T đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định, bị đơn ông Phạm Đức Ư, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 317, 320, 323, 351, 357, 436, 466, 468 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
- Buộc ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 30/7/2024 là 18.845.529.302 đồng theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/6/2022. Trong đó: nợ gốc: 17.000.000.000 đồng; lãi trong hạn: 85.472.603 đồng; lãi quá hạn: 1.752.226.027 đồng; lãi chậm trả lãi: 7.830.672đồng.
- Buộc bà Đoàn Thị Thanh T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 30/7/2024 là 1.348.343.962 đồng là nợ của các thẻ tín dụng và khoản vay tiêu dùng trên S1 Pay gồm: nợ gốc: 1.028.403.616 đồng; lãi trong hạn: 75.484.394 đồng; phí: 13.639.590 đồng; nợ lãi quá hạn: 230.816.362 đồng.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S buộc bà Đoàn Thị Thanh T phải trả số tiền nợ lãi quá hạn từ các thẻ tín dụng và khoản vay tiêu dùng trên S1 pay là 21.163.942 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đến khi trả xong khoản tiền trên, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận. Trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số: 59, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Số A L, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BP 415224, số vào sổ cấp GCN số CH 00086 do Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng cấp ngày 18/11/2013 cho bà Nguyễn Thị Thanh H. Ngày 07/6/2022, Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H - Chi nhánh quận H xác nhận chuyển nhượng cho chị Phạm Thị Minh N (theo Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ngày 07/6/2022, số công chứng 1087, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/6/2022). Đặc điểm thửa đất: Diện tích: 113m², hình thức sử dụng: Riêng, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị. Nhà ở: Diện tích xây dựng: 113 m², diện tích sàn: 452 m², kết cấu: Sàn+ mái BTCT, tường gạch, số tầng: 04 (theo sơ đồ hiện trạng do Công ty TNHH T1 thực hiện đo vẽ, khảo sát bên ngoài ngày 01/3/2024, thể hiện diện tích xây dựng nhà ở: 117 m², diện tích sàn xây dựng: 480,3 m²).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và ông Phạm Đức Ư, bà Đoàn Thị Thanh T, có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận, là tranh chấp về kinh doanh thương mại, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Phạm Đức Ư có nơi cư trú tại quận N, thành phố Hải Phòng. Vì vậy Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm h khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn ông Phạm Đức Ư, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
- Xét yêu cầu khởi kiện đối với hợp đồng tín dụng của nguyên đơn:
[3] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/06/2022; Giấy nhận nợ số 08 ngày 31/05/2023; Giấy nhận nợ số 09 ngày 01/6/2023 giữa Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh H1 - Phòng G và bên được cấp tín dụng là ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T được ký kết bởi các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện ký kết và thực hiện, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với các điều 116, 117, 385, 398, 463 Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn không trả tiền nợ đúng hạn theo đúng thỏa thuận tại điểm b mục 2.1 Các điều khoản chung về cấp tín dụng (đính kèm Hợp đồng tín dụng), thể hiện: Trường hợp bên được cấp tín dụng không thanh toán đúng hạn và đầy đủ thì Ngân hàng được toàn quyền thực hiện chuyển toàn bộ số dư nợ thực tế còn lại của Hợp đồng này và các Hợp đồng tín dụng khác (nếu có) dù chưa đến hạn cũng được chuyển sang nợ quá hạn. Khi đó, S1 được áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật, bao gồm cả xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ”. Như vậy bị đơn phải trả nợ cho Ngân hàng là phù hợp với Điều 275, 357 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về khoản nợ gốc: Theo Giấy nhận nợ 08, Giấy nhận nợ 09 thì Ngân hàng đã giải ngân cho bị đơn số tiền vay là 17.000.000.000 đồng (mười bảy tỷ đồng). Quá trình từ ngày giải ngân đến nay, bị đơn chưa thanh toán tiền gốc nên tính đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc là 17.000.000.000 đồng. Do đó, bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số nợ gốc này là phù hợp với quy định của Điều 280 Bộ luật Dân sự.
[5] Xét yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi trong hạn: Tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng: “lãi suất cho vay được xác định cho từng lần nhận tiền vay theo quyết định của S1 tại thời điểm giải ngân và được ghi cụ thể trên từng giấy nhận nợ”. Theo mục 7 của Giấy nhận nợ 08 và mục 7 của Giấy nhận nợ 09 thì lãi suất trong hạn là 7,5%/năm (1 năm = 365 ngày). Thỏa thuận này là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5.1] Đối với khoản 10.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 09 ngày 01/6/2023 thì lãi suất trong hạn phải trả: 51.369.863 đồng. Theo sổ phụ hợp đồng vay thể hiện: Bị đơn đã thanh toán tiền lãi trong hạn: 24 đồng. Do đó lãi suất trong hạn còn nợ là: 51.369.839 đồng.
[5.2] Đối với khoản nợ gốc 7.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 08 ngày 31/5/2023 thì lãi suất trong hạn phải trả: 34.520.548 đồng. Theo sổ phụ hợp đồng vay thể hiện: Bị đơn đã thanh toán tiền lãi: 417.784 đồng. Do đó lãi suất trong hạn còn nợ là: 34.102.764 đồng.
[5.3] Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về buộc bị đơn phải trả lãi trong hạn là 85.472.603 đồng là có cơ sở.
[6] Xét yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi quá hạn: Kể từ kỳ trả nợ tháng 08/2023, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tại Ngân hàng. Theo mục 2.4 các điều khoản chung về cấp tín dụng đính kèm Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/6/2022): “Trường hợp chậm trả nợ gốc, bên được cấp tín dụng đồng ý chịu mức lãi suất nợ quá hạn đối với phần nợ gốc quá hạn mà bên được cấp tín dụng không trả đúng hạn bằng 150% lãi suất trong hạn theo quy định trong Hợp đồng này/Giấy nhận nợ tương ứng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”.
[6.1] Đối với khoản 10.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 09 ngày 01/6/2023 thì tính từ ngày 01/9/2023 đến ngày xét xử (ngày 30/7/2024), lãi suất quá hạn: 1.029.452.055 đồng.
[6.2] Đối với khoản 7.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 08 ngày 31/5/2023 thì tính từ ngày 31/8/2023 đến ngày xét xử (ngày 30/7/2024), lãi suất quá hạn: 722.773.973 đồng.
[6.3] Như vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả khoản tiền lãi quá hạn là 1.752.226.027 đồng là có cơ sở.
[7] Xét yêu cầu của nguyên đơn về phạt chậm trả lãi: Tại mục 2.5 các điều khoản chung về cấp tín dụng đính kèm Hợp đồng tín dụng số 20222 6643900 ngày 07/6/2022 có ghi: “Trường hợp chậm trả lãi, bên được cấp tín dụng đồng ý chịu mức lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Thỏa thuận này phù hợp Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
[7.1] Đối với khoản 10.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 09 ngày 01/6/2023 thì tính từ ngày 01/9/2023 đến ngày xét xử (ngày 30/7/2024), phạt chậm trả lãi: 4.700.692 đồng.
[7.2] Đối với khoản 7.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 08 ngày 31/5/2023 thì tính từ ngày 31/8/2023 đến ngày xét xử (ngày 30/7/2024), phạt chậm trả lãi: 3.129.980 đồng.
[7.3] Như vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả khoản tiền phạt chậm trả lãi là 7.830.672 đồng là có cơ sở.
[8] Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về buộc bị đơn phải trả khoản nợ gốc, nợ lãi, phạt chậm trả lãi theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ chấp nhận.
- Xét yêu cầu của nguyên đơn về số nợ theo các thẻ:
[9] Xét tính hợp pháp của hợp đồng thẻ tín dụng: Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho bà Đoàn Thị Thanh T theo: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 07062201 ngày 07/6/2022 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S; với hạn mức tín dụng là 1.000.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của Hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự và điểm a khoản 1 Điều 16 của Thông tư số 15/VBHN-NHNN ngày 07/12/2021 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng. Nội dung của Hợp đồng có đầy đủ các điều khoản quy định tại Điều 13 của Thông tư số 15/VBHN-NHNN ngày 07/12/2021 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng. Về hình thức của Hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 119 của Bộ luật Dân sự. Như vậy, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực đối với các bên.
[10] Xét tính hợp pháp của giao dịch vay tiêu dùng trên S1: Ngày 15/6/2022, thông qua ứng dụng S1, bà Đoàn Thị Thanh T đã đăng ký, xác nhận giao dịch vay và đã được Ngân hàng duyệt với số tiền là 100.000.000 đồng, lãi suất góp đều 0.9%/tháng, thời hạn 60 tháng, lãi suất quy đổi là 1,77%/tháng (21,24%/năm) theo Thông báo số 936/2022/TB-TTT ngày 22/4/2022 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc dịch vụ vay tiêu dùng trên Sacom bank P là phù hợp với Điều 117 Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010(sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[11] Về việc cấp thẻ tín dụng: Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 07062201 ngày 07/6/2022 có ghi thông tin loại thẻ tín dụng đăng ký là Thẻ Visa Platinum, thẻ Family. Theo phiếu giao nhận pin và thẻ thì bà Đoàn Thị Thanh T đã ký và nhận 03 thẻ tín dụng gồm: Thẻ Visa Platinum, thẻ Family và thẻ N1. Thực tế bà Đoàn Thị Thanh T đã sử dụng 03 thẻ tín dụng này. Tại phiếu giao nhận pin và thẻ đã có ghi thỏa thuận: “ Bằng việc kích hoạt hay sử dụng thẻ này, Quý khách đồng ý chấp hành Biểu phí, Điều khoản và điều kiện sử dụng Thẻ S1. Biểu phí và Điều kiện được công bố công khai trên Website chính thức của S1...” nên bà Đoàn Thị Thanh T phải có nghĩa vụ thanh toán đối với 03 thẻ tín dụng này.
[12] Về số tiền giao dịch của 04 thẻ gồm các thẻ: thẻ 436438-7399 (thẻ Visa Platinum) số tiền giao dịch là 1.036.950.000 đồng; thẻ 970403-5446 (thẻ Napas) số tiền giao dịch 205.872.000 đồng; thẻ 970403-9990 (thẻ F) số tiền giao dịch: 284.602.000 đồng và thẻ 356480-8406 (khoản vay tiêu dùng trên S1) số tiền giao dịch là 100.000.000 đồng.
[13] Xét việc thực hiện Hợp đồng của các bên: Theo bản sao kê chi tiết, xác định: Đối với thẻ 436438-7399 (thẻ Visa Platinum); thẻ 356480-8406 (khoản vay tiêu dùng trên S1) thì ngày 25/12/2023; đối với thẻ 970403-5446 (thẻ N1), thẻ 970403-9990 (thẻ Family) ngày 15/12/2023 bà T không trả số tiền thanh toán tối thiểu cho Ngân hàng. Theo Thông báo số 936/2022/TB-TTT ngày 22/4/2022 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc dịch vụ vay tiêu dùng trên S1 có ghi: “Nợ quá hạn, công tác thu hồi nợ tương tự như thẻ tín dụng hiện hành”. Như vậy, bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng. Vì vậy, ngày 16/12/2023 và ngày 26/12/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang quá hạn và Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà T là phù hợp với Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[14] Theo điểm 1.24 Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng: “Lãi suất: là mức lãi suất mà S1 áp dụng đối với các khoản cấp tín dụng thông qua hình thức phát hành Thẻ bao gồm: Lãi suất trong hạn và Lãi suất quá hạn. Lãi suất trong hạn là lãi suất được S1 công bố theo Biểu phí trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn.” Theo Biểu phí sản phần dịch vụ thẻ tín dụng S1 ban hành kèm theo Quyết định số 375/2022/QĐ-TTT ngày 28/02/2022 có hiệu lực từ ngày 10/3/2022 thì mức lãi suất 22,2%/năm đối với thẻ visa Platinum áp dụng đối với cá nhân đang có dư nợ tại chi nhánh hạng cao cấp; lãi suất 24,6%/năm đối với thẻ Family áp dụng theo biểu phí đối với cá nhân đang có dư nợ tại chi nhánh hạng phổ thông; lãi suất 24,6%/năm đối với thẻ Napas theo biểu phí đối với cá nhân đang có dư nợ tại chi nhánh hạng phổ thông. Lãi suất, phí được quy định tại Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ tín dụng S1 do Ngân hàng TMCP S phát hành theo Quyết định số 3156/2023/QĐ-TT.PTSPCN ngày 24/11/2023 có hiệu lực từ ngày 01/12/2023 với mức lãi suất 23,2%/năm đối với thẻ visa Platinum áp dụng đối với cá nhân đang có dư nợ tại chi nhánh hạng cao cấp; lãi suất 26,6%/năm đối với thẻ Family áp dụng theo biểu phí đối với cá nhân đang có dư nợ tại chi nhánh hạng phổ thông; lãi suất 26,6%/năm đối với thẻ Napas theo biểu phí đối với cá nhân đang có dư nợ tại chi nhánh hạng phổ thông. Ngoài ra, bà Đoàn Thị Thanh T còn sử dụng 01 khoản vay tiêu dùng trên S1 pay cấp trên hạn mức của thẻ tín dụng hiện hữu lãi suất góp đều là 0.9%/tháng, thời hạn 60 tháng, lãi suất quy đổi là 1,77%/ tháng (21,24%/năm) theo Thông báo số 936/2022/TB-TTT ngày 22/4/2022 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc dịch vụ vay tiêu dùng trên Sacom bank P. Xét việc thỏa thuận giữa các bên, quy định lãi suất, phí của Ngân hàng là phù hợp với khoản 1, 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 1 Điều 5 Thông tư số 15/VBHN-NHNN ngày 07/12/2021 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng. Đối với lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với điểm b khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự và điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
[15] Xét tập thông báo giao dịch thẻ tín dụng thể hiện số dư sao kê, lãi trong hạn, phí phát sinh của từng kỳ sao kê với mức lãi suất, mức phí phù hợp với thỏa thuận của các bên. Xét bảng tính lãi quá hạn do Ngân hàng cung cấp đã áp dụng mức lãi suất phù hợp với sự thỏa thuận của các bên, thời gian tính lãi quá hạn từ ngày quá hạn 26/12/2023 đối với với thẻ 436438-7399; thẻ 356480-8406; thời gian tính lãi quá hạn từ ngày 16/12/2023 đối với thẻ 970403-5446, thẻ 970403-9990. Theo Điều 21 Bản Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Thứ tự ưu tiên thanh toán: “Trừ trường hợp S1 có quy định khác, việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự thời gian phát sinh giao dịch và theo thứ tự như sau: a) Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; b) Giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt của kỳ trước; c)giao dịch mua bán hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến của kỳ trước; d) các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; e) Giao dịch rút tiền mặt/tương đương Rút tiền mặt trong kỳ; f) Giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến trong kỳ”. Tuy nhiên, khi khách hàng thanh toán, Ngân hàng đã không thu nợ theo thứ tự từng kỳ thanh toán mà Ngân hàng trừ toàn bộ lãi trong hạn, phí phát sinh, sau đó mới trừ vào giao dịch, là không đúng với Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng cá nhân.
[16] Đối với thẻ 436438-7399 (thẻ V): Đã thanh toán: 622.491.000 đồng, trong đó: thanh toán lãi của từng kỳ (tháng) với tổng số tiền là 86.506.163 đồng; thanh toán phí của từng kỳ (tháng) với tổng số tiền là: 4.882.951 đồng, thanh toán giao dịch: 531.101.886 đồng.
[17] Đối với thẻ 970403-5446 (thẻ N1): Đã thanh toán: 88.168.847 đồng, trong đó thanh toán lãi của từng kỳ (tháng) với tổng số tiền là 63.686.495 đồng; thanh toán phí của từng kỳ (tháng) với tổng số tiền là: 4.114.800 đồng, thanh toán giao dịch: 20.367.552 đồng.
[18] Đối với thẻ 970403-9990 (thẻ F): Đã thanh toán: 110.223.443 đồng, trong đó thanh toán lãi của từng kỳ (tháng) với tổng số tiền là 79.991.763 đồng; thanh toán phí của từng kỳ (tháng) với tổng số tiền là: 5.271.734 đồng, thanh toán giao dịch: 24.959.946 đồng.
[19] Đối với thẻ 356480-8406 (khoản vay tiêu dùng trên S1): Đã thanh toán: 36.441.000 đồng, trong đó thanh toán lãi của từng kỳ (tháng) với tổng số tiền là 13.500.000 đồng; thanh toán phí của từng kỳ (tháng) với tổng số tiền là: 320.000 đồng, thanh toán giao dịch: 22.591.000 đồng
[20] Về số nợ gốc, lãi trong hạn, phí, lãi quá hạn của từng thẻ: Từ phân tích như trên, nợ gốc, lãi trong hạn, phí đối với 4 thẻ là thẻ 436438-7399: nợ gốc: 505.848.114 đồng, lãi trong hạn: 41.189.053 đồng, phí: 8.432.659 đồng; thẻ 970403-9990: nợ gốc 259.642.054 đồng; lãi trong hạn: 17.903.738 đồng; phí: 2.850.416 đồng; thẻ 970403-5446: nợ gốc 185.504.448 đồng, lãi trong hạn: 12.791.603 đồng; phí: 2.036.515 đồng; thẻ 356480-8406: nợ gốc 77.409.000 đồng; lãi trong hạn: 3.600.000 đồng; phí: 320.000 đồng. Tổng nợ của 04 thẻ: nợ gốc: 1.028.403.616 đồng; lãi trong hạn: 75.484.394 đồng; phí: 13.639.590 đồng.
[21] Về lãi quá hạn: Do Ngân hàng thu nợ chưa đúng với thứ tự ưu tiên thanh toán nên số dư nợ gốc theo yêu cầu của Ngân hàng là 1.117.527.600 đồng thực chất là nợ gốc (giao dịch), lãi trong hạn, phí (cụ thể: nợ gốc: 1.028.403.616 đồng; lãi trong hạn: 75.484.394 đồng; phí: 13.639.590 đồng). Nên việc Ngân hàng tính lãi quá hạn trên dư nợ (nợ gốc, lãi trong hạn, phí) là 251.980.304 đồng không phù hợp điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Do đó, nợ lãi quá hạn được chấp nhận tính trên dư nợ gốc của 4 thẻ. Như vậy, tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi quá hạn của từng thẻ là: Thẻ 436438-7399: 105.138.784 đồng; thẻ 970403-9990: 64.712.784 đồng; thẻ 970403-5446: 46.234.752 đồng; thẻ 356480-8406: 14.730.042 đồng. Tổng lãi quá hạn được chấp nhận là 230.816.362 đồng, không chấp nhận số tiền lãi quá hạn: 21.163.942 đồng.
[22] Về vượt quá hạn mức: Theo Điều 17 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S: “Hạn mức được S1 thông báo bằng văn bản đính kèm theo Thẻ khi giao Thẻ mới cho chủ thẻ. Khi Chủ thẻ được tăng/giảm hạn mức, S1 sẽ thông báo bằng tin nhắn hoặc các hình thức khác theo quy định từng thời kỳ. Chủ thẻ phải theo dõi và thực hiện các biện pháp cần thiết để dư nợ không vượt hạn mức vào bất cứ thời điểm nào. Trong trường hợp S1 phê duyệt giao dịch phát sinh của chủ thẻ khi không có đủ hạn mức, chủ thẻ đồng ý và có trách nhiệm thanh toán đối với tất cả các giao dịch, tiền phí hoặc các khoản tiền khác phát sinh do vượt quá hạn mức. S1 có thể yêu cầu thanh toán ngay lập tức số tiền vượt hạn mức hoặc toàn bộ dư nợ”. Theo hạn mức tín dụng được phê duyệt là 1.000.000.000 đồng nhưng thực tế giao dịch của bà Đoàn Thị Thanh T tại 04 thẻ là 1.028.403.616 đồng nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về buộc bà T phải thanh toán nợ vượt quá hạn mức.
[23] Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc thanh toán số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, phí của 03 thẻ tín dụng và 01 khoản vay tiêu dùng trên S1 phù hợp với khoản 1, điểm b khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên có cơ sở để chấp nhận. Còn đối với số nợ quá hạn đã phân tích tại mục [21] chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng đối với lãi quá hạn: 230.816.362 đồng; không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng đối với lãi quá hạn: 21.163.942 đồng.
- Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp:
[24] Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ngày 07/6/2022 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP S – chi nhánh H1 – Phòng G và bên thế chấp: Chị Phạm Thị Minh N. Hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là phù hợp với quy định tại Điều 502 của Bộ luật Dân sự, điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai và khoản 1 Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm. Tại Điều 1 của Hợp đồng thế chấp quy định: Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm: “Toàn bộ nghĩa vụ của bên được cấp tín dụng với S1 (gồm nợ gốc, nợ lãi, phí, các khoản phải trả khác) tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/6/2022; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 07062201 ngày 07/6/2022; giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 07062202 ngày 07/06/2022 và tất cả các sửa đổi, bổ sung, phụ lục hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, các cam kết của bên cấp tín dụng với S1 dưới hình thức cấp tín dụng theo quy định của pháp luật và các cam kết khác của bên được cấp tín dụng với S1 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng).”. Do đó, trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với các điều 292, 293, 295, 296, 299 Bộ luật Dân sự.
[25] Về hiện trạng tài sản thế chấp: Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/3/2024 kèm theo sơ đồ đo vẽ thì diện tích hiện trạng là 117 m² (tăng 4 m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất); có 01 căn nhà 04 tầng được xây dựng trên diện tích đất 117 m², diện tích sàn: 480,3 m², do thời điểm xem xét thẩm định, cửa nhà đóng cửa nên thực hiện việc đo vẽ được thực hiện từ bên ngoài. Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường P thể hiện: Hiện trạng nhà, đất không thay đổi so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đã cấp ngày 18/11/2013 và công trình nhà ở không thay đổi về mốc giới, ranh giới cũng như không thay đổi về hiện trạng công trình là nhà 4 tầng so với thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đã cấp ngày 18/11/2013, quá trình sử dụng đất đến nay không có tranh chấp với hộ liền kề.
[26] Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên.
[27] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[28] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận; nguyên đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận theo khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm h khoản 1 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 117, 119, 299, 303, khoản 1, khoản 5 Điều 466, Điều 502 của Bộ luật Dân sự; khoản 1, 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 3 Điều 167, khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai; khoản 1 Điều 118 của Luật Nhà ở; khoản 1 Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; khoản 1 Điều 5 Thông tư số 15/VBHN-NHNN ngày 07/12/2021 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng; Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 30/7/2024 là 18.845.529.302 (mười tám tỷ tám trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm hai mươi chín nghìn ba trăm linh hai) đồng theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/6/2022. Trong đó: nợ gốc: 17.000.000.000 (mười bảy tỷ) đồng; lãi trong hạn: 85.472.603 (tám mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn sáu trăm linh ba) đồng; lãi quá hạn: 1.752.226.027 (một tỷ bảy trăm năm mươi hai triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn không trăm hai mươi bảy) đồng; lãi chậm trả lãi: 7.830.672 (bảy triệu tám trăm ba mươi nghìn sáu trăm bảy mươi hai) đồng.
- Buộc bà Đoàn Thị Thanh T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 30/7/2024: 1.348.343.962 (một tỷ ba trăm bốn mươi tám triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn chín trăm sáu mươi hai) đồng là nợ của các thẻ tín dụng và khoản vay tiêu dùng trên S1 Pay gồm: nợ gốc: 1.028.403.616 (một tỷ không trăm hai mươi tám triệu bốn trăm linh ba nghìn sáu trăm mười sáu) đồng; lãi trong hạn: 75.484.394 (bảy mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi tư nghìn ba trăm chín mươi tư) đồng; phí: 13.639.590 (mười ba triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn năm trăm chín mươi) đồng; nợ lãi quá hạn: 230.816.362 (hai trăm ba mươi triệu tám trăm mười sáu nghìn ba trăm sáu mươi hai) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
1.3. Trường hợp ông Phạm Đức Ư và bà Đoàn Thị Thanh T không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ngày 07/6/2022 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP S – chi nhánh H1 – Phòng G và bên thế chấp: Chị Phạm Thị Minh N. Tài sản thế chấp gồm:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: Số A L, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 415224, sổ vào sổ cấp GCN: CH 00086 do Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng cấp ngày 18/11/2013 cho bà Nguyễn Thị Thanh H, ngày 07/6/2022 Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố H – chi nhánh quận H xác nhận chuyển nhượng cho chị Phạm Thị Minh N; đặc điểm thửa đất: Diện tích: 113m², hình thức sử dụng: Riêng, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị; nhà ở: Diện tích xây dựng: 113 m2, diện tích sàn: 452 m², kết cấu: Sàn+ mái BTCT, tường gạch, số tầng: 04 tầng (theo kết quả đo đạc do Công ty TNHH T1 thực hiện đo vẽ, khảo sát bên ngoài ngày 01/3/2024 thì diện tích đất là 117 m², có 01 căn nhà 04 tầng xây dựng trên diện tích đất 117 m², diện tích sàn: 480,3 m²).
Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì ông Phạm Đức Ư, bà Đoàn Thị Thanh T phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền còn thiếu cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S buộc bà Đoàn Thị Thanh T phải trả số tiền nợ lãi quá hạn từ các thẻ tín dụng và khoản vay tiêu dùng trên S1 là 21.163.942 (hai mươi mốt triệu một trăm sáu mươi ba nghìn chín trăm bốn mươi hai) đồng.
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- - Ông Phạm Đức Ư và Bà Đoàn Thị Thanh T phải chịu 126.845.529 (một trăm hai mươi sáu triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm hai mươi chín) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- - Bà Đoàn Thị Thanh T phải chịu 52.450.319 (năm mươi hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn ba trăm mười chín) đồng án phí kinh doanh thương sơ thẩm.
- - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S phải chịu 3.000.000 (ba triệu) đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nộp là: 63.435.000 (sáu mươi ba triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003037 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Trả lại cho H2 số tiền 60.435.000 (sáu mươi triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn) đồng.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn là bà Đoàn Thị Thanh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn là ông Phạm Đức Ư, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 04/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thẻ tín dụng, hợp đồng tín dụng
