|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/KDTM-ST Ngày: 17-04-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Hoàng Công Hải
-
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị HiêQn - Thư ký TAND huyện Diễn Châu
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà:
Ông Phạm Thế Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2023/TLST-KDTM ngày 13/12/2023 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QÐST-KDTM ngày 29/03/2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1); Địa chỉ: số G, đường T, quận H, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: bà Ngô Thu H – chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Duy H1, sinh năm 1982, Chức vụ: Phó giám đốc phụ trách Phòng G, Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh S1 (Giấy ủy quyền số 13/VBUQ-SHB.NA ngày 06/10/2023). Có mặt.
-
- Bị đơn: Ông Lại Văn H2, sinh năm 1986 và bà Trần Thị H3, sinh năm 1988; Đều có địa chỉ: xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Năm 2017, Ngân hàng TMCP S (sau đây viết tắt là S1) đồng ý cho vợ chồng ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 vay số tiền 150.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017; mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh hàng hải sản. Thời hạn cho vay: 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay đầu tiên; Lãi suất cho vay trong hạn: 10,5%/năm, mức lãi suất này được áp dụng đối với khoản giải ngân phát sinh trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ký HĐTD. Đối với các khoản giải ngân sau thời hạn này, mức lãi suất cho vay trong hạn được áp dụng theo quy định của S1 trong từng thời kỳ. Lãi suất cho vay trong hạn được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh 3 tháng/lần kể từ thời điểm giải ngân, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo tối thiểu bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 6 tháng trả lãi sau cao nhất KHCN của S1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3.65%/năm. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất và trả nợ được quy định cụ thể tại Khế ước nhận nợ.
Ngày 03/07/2017, ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 đã nhận nợ số tiền 150.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số 01/261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017 kèm theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên. Tại Khế ước nhận nợ thỏa thuận: Lãi suất cho vay: 10,5%/năm áp dụng cho 3 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân. Điều chỉnh lãi suất: được điều chỉnh 3 tháng/lần kể từ thời điểm giải ngân, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo tối thiểu bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 6 tháng trả lãi sau cao nhất KHCN của S1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3.65%/năm; Thời hạn cho vay: 12 tháng kể từ ngày 04/7/2017 đến ngày 03/7/2018; Lịch trả nợ gốc: cuối kỳ; Lịch trả nợ lãi: trả lãi hàng tháng, vào ngày 05 hàng tháng, bắt đầu trả từ ngày 05/8/2017.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là Quyền sử dụng thửa đất số 1994, tờ bản đồ số 02 và tài sản gắn liền với đất tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 163739 do UBND huyện D cấp ngày 17/7/2012 cho ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 23/10/2015 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 01/2016/VBSĐBS-593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 19/10/2016 giữa S1 và ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 đã trả cho S1 số tiền nợ gốc là 70.309.703 đồng và 15.936.413 đồng lãi trong hạn và 37.387.438 đồng lãi quá hạn.
Do ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 liên tục vi phạm nghĩa vụ trả nợ, khoản nợ đã quá hạn. Tính đến ngày 17/04/2024, ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 còn nợ S1 số tiền là 137.625.314 đồng (trong đó nợ gốc: 79.690.297 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, lãi quá hạn: 57.935.017 đồng).
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau :
- Buộc ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 17/04/2024 là 137.625.314 đồng (trong đó nợ gốc: 79.690.297 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, lãi quá hạn: 57.935.017 đồng và tiền lãi tiếp tục tính lãi theo lãi suất nợ quá hạn cho đến khi trả hết nợ.
- Trường hợp ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, SHB có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp sau để thu hồi nợ: Quyền sử dụng thửa đất số 1994, tờ bản đồ số 02 và tài sản gắn liền với đất tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 163739 do UBND huyện D cấp ngày 17/7/2012 cho ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 23/10/2015 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 01/2016/VBSĐBS-593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 19/10/2016
- Sau khi phát mại tài sản thế chấp nếu chưa đủ số tiền trả nợ thì buộc ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 tiếp tục thực hiện việc trả nợ cho đến khi thanh toán hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP S.
- Về án phí và chi phí tố tụng: Buộc ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 chịu toàn bộ án phí. Nguyên đơn tự nguyện chịu số tiền 3.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp trong vụ án, không yêu cầu bị đơn trả lại, không yêu cầu tòa án giải quyết trong vụ án.
Bị đơn là ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không cử người đại diện tham gia phiên tòa. Kết quả xác minh cho thấy bị đơn hiện đăng ký thường trú tại địa chỉ xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; ông H2 làm nghề đi biển nên thỉnh thoảng mới về nhà. Tòa án đã tiến hành giao trực tiếp các Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải... cho ông H2 nhưng không thành nên đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng trên theo quy định, đồng thời giao cho vợ của ông H2 là bà Trần Thị H3 nhận để bà H3 giao lại cho chồng, bà Trần Thị H3 cam đoan thông báo và giao lại các văn bản tố tụng trên cho ông Lại Văn H2. Ông H2 vắng mặt không gửi văn bản nêu ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án. Bà Trần Thị H3 vắng mặt tại phiên tòa, quá trình giải quyết vụ án tại bản tự khai ngày 17/01/2024 thừa nhận: vợ chồng (Lại Văn H2 – Trần Thị H3) có vay Ngân hàng S1 số tiền là 150.000.000 đồng để bổ sung tàu thuyền vào năm 2017 theo Hợp đồng tín dụng số 261 ngày 03/07/2017. Quá trình vay đã trả nợ được tiền gốc là 70.309.703 đồng và một số tiền lãi. Từ đó đến nay do tàu thuyền thua lỗ, vợ chồng đã phải bán tàu với số tiền không đáng kể, không đủ khả năng trả nợ ngân hàng. Đến nay vợ chồng còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 79.690.297 đồng và tiền lãi. Tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất gắn liền với thửa đất số 1994, tờ bản đồ số 02 tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thep Hợp đồng thế chấp số 593 ngày 23/10/2015. Nay Ngân hàng khởi kiện thì bà H3 có ý kiến như sau: vợ chồng công nhận nợ và có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số nợ trên; trong trường hợp vợ chồng không trả nợ được thì đồng ý để Ngân hàng phát mãi tài sản thu hồi nợ. Đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng thời gian ngắn sẽ cố gắng trả nợ cho Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS;
- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 292, 293, 295, 298, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 463, 465, 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1)
+ Buộc ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) số tiền tính đến ngày 17/04/2024 là 137.625.314 đồng (trong đó nợ gốc: 79.690.297 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, lãi quá hạn: 57.935.017 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
+ Về xử lý tài sản thế chấp: Đề nghị tuyên trường hợp ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp sau để thu hồi nợ: Quyền sử dụng thửa đất số 1994, tờ bản đồ số 02 và tài sản gắn liền với đất tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 163739 do UBND huyện D cấp ngày 17/7/2012 cho ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 23/10/2015 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 01/2016/VBSĐBS-593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 19/10/2016.
Số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp không thanh toán đủ trả số tiền còn nợ thì ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 phải tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán cho đến khi tất toán hợp đồng. Trường hợp giá trị tài sản thế chấp lớn hơn khoản nợ thì số tiền chênh lệch phải trả lại cho ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3.
Ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 trả đủ số tiền nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 163739 do UBND huyện D cấp ngày 17/7/2012 cho ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3.
+ Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét
+ Về án phí: Buộc ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp; Bị đơn hiện đăng ký thường trú tại huyện D, tỉnh Nghệ An nên theo quy định tại khoản 1 điều 30; điểm b khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 của BLTTDS Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
-
[2]. Về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
-
[2.1]. Về yêu cầu trả tiền nợ gốc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc còn lại của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017 và Khế ước nhận nợ số 01/261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017 đã ký giữa S1 và vợ chồng Lại Văn H2, bà Trần Thị H3 là 79.690.297 đồng. Tài liệu chứng nguyên đơn giao nộp để chứng minh gồm: Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017 và Khế ước nhận nợ số 01/261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017; Phiếu tính lãi; Sổ phụ tài khoản vay tiền; Bảng tổng hợp các khoản phải trả.
Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai đề ngày 17/01/2024, bà Trần Thị H3 thừa nhận vợ chồng (Lại Văn H2 – Trần Thị H3) có vay Ngân hàng S1 số tiền là 150.000.000 đồng để bổ sung tàu thuyền vào năm 2017 theo Hợp đồng tín dụng số 261 ngày 03/07/2017. Quá trình vay đã trả nợ được tiền gốc là 70.309.703 đồng và một số tiền lãi. Từ đó đến nay do tàu thuyền thua lỗ, vợ chồng đã phải bán tàu với số tiền không đáng kể, không đủ khả năng trả nợ ngân hàng. Đến nay vợ chồng còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 79.690.297 đồng và tiền lãi. Nay Ngân hàng khởi kiện thì bà H3 có ý kiến như sau: vợ chồng công nhận nợ và có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số nợ trên, đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng thời gian ngắn, sẽ cố gắng trả nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, không xuất trình tài liệu chứng cứ gì về việc trả thêm được số tiền nợ gốc cho đến ngày xét xử.
Hội đồng xét xử xét thấy: căn cứ các tài liệu nguyên đơn cung cấp cho thấy Hợp đồng tín dụng được các bên hoàn toàn tự nguyện; hình thức, nội dung của hợp đồng không trái với các quy định của pháp luật nên các thỏa thuận này có hiệu lực pháp lý với các bên đã ký kết. Thời hạn vay các bên thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ số 01/261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017 là 12 tháng (kể từ ngày 04/7/2017 đến ngày 03/7/2018), L trả nợ gốc: cuối kỳ, nên tính đến ngày xét xử sơ thẩm khoản vay đã quá hạn nhưng bị đơn chưa tất toán khoản là vi phạm thỏa thuận của các bên về nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017 và Khế ước nhận nợ số 01/261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017 đã ký giữa S1 và vợ chồng ông Lại Văn H2, bà Trần Thị H3 là 79.690.297 đồng như trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 466 Bộ luật Dân sự nên cần chấp nhận.
-
[2.2]. Về yêu cầu trả tiền lãi: Tại khoản 1.4 Điều 1, Điều 5, Điều 6, Điều 8 của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017 và nội dung Khế ước nhận nợ số 01/261/2017/HĐTDNH-CN/SHB.120203 ngày 03/07/2017 thể hiện các bên đã tự nguyện thỏa thuận về lãi suất cho vay, phương thức tính lãi vay, chuyển nợ quá hạn... Hội đồng xét xử xét thấy nội dung các thỏa thuận trên là tự nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật. Căn cứ các tài liệu đương sự xuất trình về việc thanh toán nợ cho thấy: đến ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn chưa trả hết được tiền nợ gốc còn lại 79.690.297 đồng cũng như tiền lãi cho S1 nên căn cứ quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 468 Bộ luật Dân sự cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Lại Văn H2, bà Trần Thị H3 có nghĩa vụ trả cho SHB số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 17/04/2024 là 57.935.017 đồng
Cần áp dụng quy định về lãi suất của Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao buộc bị đơn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, K ước nhận nợ kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
-
[2.3]. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên trường hợp ông Lại Văn H2, bà Trần Thị H3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên, thì SHB có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng thửa đất số 1994, tờ bản đồ số 02 và tài sản gắn liền với đất tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để thu hồi nợ.
Tại bản tự khai ngày 17/01/2024, bà Trần Thị H3 thừa nhận: Tài sản đảm bảo khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất gắn liền với thửa đất số 1994, tờ bản đồ số 02 tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thep Hợp đồng thế chấp số 593 ngày 23/10/2015; trong trường hợp vợ chồng không trả nợ được thì đồng ý để Ngân hàng phát mãi tài sản.
Căn cứ lời trình bày của các đương sự và các tài liệu nguyên đơn cung cấp gồm: Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắp liền với đất ngày 23/10/2015; Biên bản định giá tài sản thế chấp số 593/2015/BBĐG-SHB/DC ngày 23/10/2015; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 23/10/2015; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 01/2016/VBSĐBS-593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 19/10/2016; bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 163739 do UBND huyện D cấp ngày 17/7/2012 cho ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3.... và căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử xét thấy: thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng thế chấp trên được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện; nội dung, hình thức của Hợp đồng không trái đạo đức, phù hợp với các quy định của pháp luật; Hợp đồng đã được công chứng, đăng ký thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm hợp pháp nên có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên trường hợp ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên, thì SHB có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng thửa đất số 1994, tờ bản đồ số 02 và tài sản gắn liền với đất tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 163739 do UBND huyện D cấp ngày 17/7/2012 cho ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 23/10/2015 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 01/2016/VBSĐBS-593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203ngày 19/10/2016 để thu hồi nợ.
Cần tuyên trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho S1.
-
-
[3]. Về chi phí tố tụng và án phí:
- - Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã nộp đủ và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, không yêu cầu bị đơn phải hoàn trả và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về án phí: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tổng số tiền nợ là 137.625.314 đồng được Tòa án chấp nhận toàn bộ, vì vậy căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại với mức thu là (5% của giá trị tranh chấp) là 6.881.265 đồng. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
-
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 292, 293, 295, 298, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 463, 465, 466, 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1)
-
[1]. Buộc ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) số tiền tính đến ngày 17/04/2024 là 137.625.314 đồng (Một trăm ba mươi bảy triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm mười bốn đồng) (trong đó nợ gốc: 79.690.297 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, lãi quá hạn: 57.935.017 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
-
[2]. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp sau để thu hồi nợ: Quyền sử dụng thửa đất số 1994, tờ bản đồ số 02 và tài sản gắn liền với đất tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 163739 do UBND huyện D cấp ngày 17/7/2012 cho ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 23/10/2015 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 01/2016/VBSĐBS-593/2015/HĐTC-CN/SHB.120203 ngày 19/10/2016.
Số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp không thanh toán đủ trả số tiền còn nợ thì ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 phải tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán cho đến khi tất toán hợp đồng. Trường hợp giá trị tài sản thế chấp lớn hơn khoản nợ thì số tiền chênh lệch phải trả lại cho ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3.
Ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 trả đủ số tiền nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 163739 do UBND huyện D cấp ngày 17/7/2012 cho ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3.
-
[3]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Buộc ông Lại Văn H2 và bà Trần Thị H3 phải chịu 6.881.265 đồng (Sáu triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn hai trăm sáu mươi lăm đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) số tiền 3.290.000 đồng (Ba triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0011074 ngày 13/12/2023
-
[4]. Án xử công khai, tuyên án có mặt người đại diện ủy quyền của nguyên đơn; vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng N |
Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp
- Số bản án: 04/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
