|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/KDTM-ST. Ngày: 02-8-2024. V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Đắc Nghĩa;
- Ông Hoàng Ngọc Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thái Thanh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLST-KDTM ngày 12/4/2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H; địa chỉ: Số B Bis N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T, sinh năm 1970; chức danh: Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Quốc T: Ông Phan Trường A, chức danh: Giám đốc chi nhánh T3;
Người đại diện hợp pháp của ông Phan Trường A: Ông Lê Minh T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh và bà Dương Thị H, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (Theo văn bản ủy quyền số 27/2024/GUQ-HDBank ngày 27/11/2023 ), vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S; địa chỉ: Tổ C, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Cẩm T2, sinh năm 1970, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12-3-2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (sau đây gọi là Công ty) có vay vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H (sau đây gọi là Ngân hàng H1) số tiền 1.026.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 30517/22MN/HĐTD, ngày 21/7/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 30517/22MN/HĐTD/KUNN01, ngày 22/7/2022, thời hạn cho vay là 48 tháng kể từ ngày nhận giải ngân đầu tiên (ngày 22/7/2022 đến ngày 22/7/2026), mục đích sử dụng số tiền vay để mua xe ô tô, lãi suất cho vay là 9.2%/năm, lãi suất này được cố định trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bên nhận nợ được H1 giải ngân tiền vay. Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho khoản tiền vay, Công ty đã ký Hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị/ phương tiện vận tải số 26445/22MN/HĐTD, ngày 21/7/2022 và các phụ lục kèm theo (nếu có) để thế chấp quyền sở hữu 01 xe ô tô tải nhãn hiệu FORTUNER LEGENDER IMP biển số: 70A-378.48; số khung: RL4BA3FS4N1251977; số máy: 1GD5232523; đứng tên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 70000259 cấp ngày 14/7/2022 tại Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình vay vốn, Công ty đã thanh toán cho Ngân hàng H1 tính đến ngày 27/11/2023 được số tiền 477.010.695 đồng, trong đó tiền gốc là 350.570.058 đồng, tiền lãi là 126.440.637 đồng, vào tháng 3/2024 Công ty S có trả cho Ngân hàng H1 30.000.000 đồng tiền lãi, như vậy tính đến ngày khởi kiện thì Công ty S đã trả được cho Ngân hàng H1 số tiền 507.010.695 đồng, trong đó tiền gốc là 350.570.058 đồng, tiền lãi là 156.440.637 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng H1 kể từ ngày 27/11/2023 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.
Nay Ngân hàng H1 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giải quyết: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S phải thanh toán cho Ngân hàng H1 tổng số tiền tính đến ngày 02/8/2024 là 744.626.925 đồng, trong đó nợ gốc là: 675.429.942 đồng, lãi trong hạn là 56.685.022 đồng, lãi quá hạn là 12. 511.961 đồng. Công ty phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên, kể từ ngày 02/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng H1. Trường hợp, Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng H1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sở hữu 01 xe ô tô tải nhãn hiệu FORTUNER LEGENDER IMP biển số: 70A-378.48; số khung: RL4BA3FS4N1251977; số máy: 1GD5232523; đứng tên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 70000259 cấp ngày 14/7/2022 tại Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh để thu hồi nợ cho Ngân hàng H1. Trường hợp tài sản bảo đảm phát mãi không đủ thanh toán nợ thì Công ty phải tiếp tục có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng H1 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; có xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- - Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 299, 317, 319, 463, 466, 468, 688 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 147, 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1, buộc Công ty S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng H1 tổng số tiền tính đến ngày 02/8/2024 là 744.626.925 đồng, trong đó nợ gốc là: 675.429.942 đồng, lãi trong hạn là 56.685.022 đồng, lãi quá hạn là 12. 511.961 đồng. Công ty phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên, kể từ ngày 02/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng H1. Trường hợp, Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng H1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp.
- + Án phí đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Lê M và bà Dương Thị H, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Lê M, bà Dương Thị H và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S1.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng số 30517/22MN/HĐTD, ngày 21/7/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 30517/22MN/HĐTD/KUNN01, ngày 22/7/2022 giữa Ngân hàng H1 và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S được ký kết trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của các bên, bảo đảm điều kiện về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên là hợp đồng hợp pháp, có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.
[2.2] Đối chiếu với các điều khoản trong Hợp đồng tín dụng và lời khai của nguyên đơn thể hiện, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S vay của Ngân hàng H1 số tiền 1.026.000.000 đồng, hình thức vay trả góp trong vòng 48 tháng từ ngày 22/7/2022 đến ngày 22/7/2026, mỗi kỳ trả 21.375.000 đồng tiền nợ gốc và tiền lãi theo mức lãi suất 9,2%/năm, từ ngày 26/8/2022 đến ngày 26/01/2023, từ ngày 26/02/2023 đến hết thời hạn vay lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần. Tính đến nay, Công ty S đã trả cho Ngân hàng H1 được số tiền 507.010.695 đồng, trong đó tiền gốc là 350.570.058 đồng, tiền lãi là 156.440.637 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng H1 kể từ ngày 27/11/2023 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% của lãi suất vay. Do đó, Ngân hàng H1 khởi kiện yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng H1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 02/8/2024 là 744.626.925 đồng, trong đó nợ gốc là: 675.429.942 đồng, lãi trong hạn là 56.685.022 đồng, lãi quá hạn là 12. 511.961 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Xét Hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị/ phương tiện vận tải số 26445/22MN/HĐTD, ngày 21/7/2022 giữa Ngân hàng H1 và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S, thấy rằng: Để đảm bảo cho số tiền vay 1.026.000.000 đồng thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (sau đây gọi là Công ty) đã thế chấp quyền sở hữu 01 xe ô tô tải nhãn hiệu FORTUNER LEGENDER IMP biển số: 70A-378.48; số khung: RL4BA3FS4N1251977; số máy: 1GD5232523; đứng tên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 70000259 cấp ngày 14/7/2022 tại Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh. Khi thế chấp tài sản giữa Ngân hàng H1 với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S có lập thành văn bản thế chấp và đăng ký đúng theo quy định tại Điều 319 của Bộ luật Dân sự và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, ngày 19-3-2021 của Chính phủ Quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nên hợp đồng thế chấp là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Do đó, trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S không thanh toán được khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng H1 thì Ngân hàng H1 có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tiến hành kê biên, phát mãi tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S đã thế chấp để thu hồi nợ. Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nghĩa vụ trả nợ thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S tiếp tục có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng H1 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
[2.4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S. Tuy nhiên, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S không hợp tác và không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên phải chịu hậu quả pháp lý do việc không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S phải chịu 33.785.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 16.724.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 299, 317, 319, 463, 466, 468, 688 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S.
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H số tiền là 744.626.925 (bảy trăm bốn mươi bốn triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm hai mươi lăm) đồng, trong đó nợ gốc là 675.429.942 (sáu trăm bảy mươi lăm triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi hai) đồng, lãi trong hạn là 56.685.022 (năm mươi sáu triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn không trăm hai mươi hai) đồng, lãi quá hạn là 12.511.961 (mười hai triệu năm trăm mười một nghìn chín trăm sáu mươi mốt) đồng.
Kể từ ngày 02/8/2024, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi của số nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc còn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H với lãi suất thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 30517/22MN/HĐTD, ngày 21/7/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 30517/22MN/HĐTD/KUNN01, ngày 22/7/2022. Lãi suất mà Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H.
2. Về xử lý tài sản bảo đảm: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tiến hành kê biên, phát mãi tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S đã thế chấp để thu hồi nợ là quyền sở hữu 01 xe ô tô tải nhãn hiệu FORTUNER LEGENDER IMP biển số: 70A-378.48; số khung: RL4BA3FS4N1251977; số máy: 1GD5232523, đứng tên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 70000259 cấp ngày 14/7/2022 tại Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh. Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nghĩa vụ trả nợ thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S tiếp tục có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H cho đến khi thanh toán dứt nợ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên S phải chịu 33.785.000 (ba mươi ba triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H 16.724.000 (mười sáu triệu bảy trăm hai mươi bốn nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006085, ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nơi nhận:
|
Bùi Văn Cương |
Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 04/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vu an tranh chap hop dong tin dung giua Ngan hang H voi cong ty T
