Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY GIANG

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 04/2024/HSST

Ngày:21/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Hân

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bhling Biên

2. Ông Nguyễn Tâm Hiếu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bơ nướch Rè, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Ating Vót, Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/HSST ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Cơ Lâu L, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2000, tại QN; Nơi thường trú thôn V, xã TH, huyện TG, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn 7/12; Dân tộc: Cơ tu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cơ Lâu Bh, sinh năm 1965 và bà ALăng Thị Nh, sinh năm 1971, vợ Bhling Thị S, sinh năm 1999, có hai người con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến ngày 11/01/2024, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

2. Đặng Công C, sinh ngày 24 tháng 12 năm 1968, tại ĐN; Nơi thường trú thôn TLĐ 1, xã HP, huyện HV, thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký tạm trú thôn V, xã TH, huyện TG, tỉnh Quảng Nam; Nghiệp: Buôn bán, Trình độ học vấn 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Công Th ( đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết), vợ Nguyễn Thị M, sinh năm 1975, có hai người con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2000. Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 29/11/2022 vận chuyển động vật rừng thông thường không có hồ sơ hợp pháp bị Công an huyện Tây Giang xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng, nộp tiền phạt ngày 09/12/2022.

2

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2024, chuyển sang tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến ngày 28/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Cơ Lâu L: Ông Zơ Râm Nhói - Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 04 huyện Đông Giang thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam, có mặt

Người bị hại: Công ty Cổ phần Tài chính và Phát triển NL; Địa chỉ: thôn V, xã TH, huyện TG, tỉnh Quảng Nam

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngọ Hoàng H - Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Quốc Q; Chức vụ: Tổng giám đốc, có mặt (theo Giấy ủy quyền số 08/GUQ – FED ngày 09/5/2024 của Công ty Cổ phần Tài chính và Phát triển NL).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Bhling Thị S, sinh năm: 1999; Địa chỉ: thôn V, xã TH, huyện TG, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1975; Địa chỉ: thôn V, xã TH, huyện TG, tỉnh Quảng Nam, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 08/12/2023 Cơ Lâu L là công nhân Công ty Cổ phần Tài chính và Phát triển NL đang làm việc tại trạm nghiền thủy điện TH địa chỉ thôn V, xã TH, huyện TG thì thấy có một đoạn dây điện lõi đồng lòi ra từ khu vực đất L đang làm nên đã này sinh ý định trộm cắp. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm tối xong L lấy một cái cưa tay bằng kim loại và điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 43F1 - 481.64 đi từ nhà của L đến khu vực trạm nghiền thủy điện TH để cắt trộm số dây điện nói trên, L cưa một đoạn 10 m sau đó cắt thành từng đoạn ngắn khoảng từ 30 cm đến 70 cm và cột lại từng bó chở về. Trên đường đi về Long giấu số dây điện trộm cắp vào trong bụi cây đoạn đường từ thủy điện TH đi về Ủy ban nhân dân xã TH cũ.

Sáng ngày 09/12/2023 L đi làm và mang theo một cái rựa đến khoảng 11 giờ cùng ngày, sau khi ăn trưa xong Long đi đến vị trí cất giấu số dây điện để gọt bỏ phần vỏ bên ngoài để lấy phần lõi đồng bên trong, gọt đến khoảng 13 giờ thì xong L quay lại làm việc. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, L đi đến chỗ giấu dây điện và dùng số điện thoại 0326.777.xxx gọi đến số 0972.602.284 của ông Đặng Công C xuống mua dây đồng, khoảng 05 phút sau thì ông C chạy xe mô tô WIN Biến kiểm soát 43. 773 - K1 đến chỗ L và ông C cầm theo một cái cân nhỏ nên không cân được, L và ông C mang số dây điện trên về nhà ông C tại thôn V, xã TH, huyện TG để cân số dây điện lõi đồng là 28,5kg với giá là 120.000 đồng/1kg thành tiền là 3.420.000

3

đồng. Ông C đưa cho L 700.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản cho L 2.000.000 đồng, còn 720.000 đồng ông C trừ tiền L mua hàng còn nợ ông.

Ngày 10/12/2023 ông C bán số dây đồng trên cho ông Lê Phước V, địa chỉ thôn ML, xã ĐT, huyện ĐL, tỉnh Quảng Nam với giá là 140.000 đồng/1kg được 3.990.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 01 ngày 10/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tây Giang kết luận: Dây cáp điện có chiều dài 10m lõi đồng nhãn hiệu CVV 3x 95 + 1x70 có giá trị 5.410.000 ( năm triệu bốn trăm mười ngàn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSTG ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Cơ Lâu L về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), truy tố bị cáo Đặng Công C về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Cơ Lâu L từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 323 điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đặng Công C từ 03 tháng đến 06 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ và tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến ngày 28/02/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Cơ Lâu L đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại Công ty Cổ phần Tài chính và Phát triển NL, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

1. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh của bị cáo Cơ Lâu L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh; 01 cái cân nhãn hiệu Bến Thành và số tiền 4.710.000 đồng của bị cáo Đặng Công C.

2. Trả lại cho bị cáo Cơ Lâu L số tiền 2.700.000 ( hai triệu bảy trăm ngàn đồng).

3. Tuyên tiêu hủy: 01 sim số 0326.777.099 của bị cáo Cơ Lâu L; 01 sim số 0972.602.284 của bị cáo Đặng Công C; 01 lưỡi cưa bằng kim loại bị gãy; 01 cưa tay màu đỏ, dài 43 cm; 01 cái rựa dài 59 cm; 19 đoạn vỏ bọc bằng nhựa hình ống tròn, màu đen; 01 đoạn dây đồng hình ống tròn dài 39 cm; 01 đoạn dây đồng hình ống tròn

4

dài 40 cm; 01 đoạn dây dài 65 cm gồm 01 đoạn dây đồng hình ống tròn dài 30 cm và 01 sợi dây điện màu xanh dài 35 cm.

4. Quá trình truy tố, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Giang đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp gồm: trả lại cho bà BhLing Thị S 01 xe mô tô Biển kiểm soát 43F - 484.64, nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu xanh; trả lại cho bà Nguyễn Thị M 01 xe mô tô Biển kiểm soát 43. 773 - K1, nhãn hiệu HONDA WIN 100, màu đen, là hoàn toàn phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Công C phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Cơ Lâu L là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L.

Người bào chữa cho bị cáo Cơ Lâu L trình bày: Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Giang truy tố bị cáo Cơ Lâu L về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo với mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhất trí với lời trình bày của người bào chữa, không bổ sung gì thêm.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Cơ Lâu L và Đặng Công C đều thống nhất với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Giang đề nghị. Các bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

5

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bhling Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 08/12/2023 Cơ Lâu L đến trạm nghiền thủy điện TH thuộc địa phận thôn V, xã TH, huyện TG nơi đang thi công thủy điện bị cáo Cơ Lâu L đã có hành vi lén lút cắt trộm 10 mét dây điện của Công ty Cổ phần Tài chính và Phát triển NL để lấy lõi đồng, giá trị tài sản trộm cắp theo định giá là 5.410.000 đồng. L điện thoại cho Đặng Công C để bán số lõi đồng trên, C biết L trộm cắp nhưng vẫn điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 43. 773 - K1 của Nguyễn Thị M và mang theo một cái cân đến khu vực Long cất giấu dây điện lõi đồng để mua, do cân loại nhỏ không cân được nên L và C mang số dây điện L trộm cắp về nhà Đặng Công C tại thôn V, xã TH, huyện TG để cân và bán được 3.420.000 đồng. Ông C đưa cho L 700.000 đồng, chuyển khoản cho L 2.000.000 đồng, còn 720.000 đồng ông C trừ tiền L mua nợ hàng hóa.

Hành vi lén lút cắt trộm dây điện của bị cáo Cơ Lâu L đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi biết rõ dây điện lõi đồng là tài sản bị cáo L trộm cắp của Công ty Cổ phần Tài chính và Phát triển NL nhưng bị cáo Đặng Công C vẫn mua nên bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Giang đã truy tố bị cáo Cơ Lâu L về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 và bị cáo Đặng Công C về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Tội phạm mà các bị cáo gây ra xâm phạm tài sản của người khác được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đã nhận thức được rằng việc chiếm đoạt tài sản của người khác, tiêu thụ tài sản mà biết rõ là do người khác phạm tội mà có là trái pháp luật. Nhưng vì lòng tham nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Cả hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo L đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, là người dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn, đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, bị cáo Cơ Lâu L được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; bị

6

cáo Đặng Công C được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015( sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đây là những tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rắng: Bị cáo Cơ Lâu L có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Do đó, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như người bào chữa đề nghị là hoàn toàn phù hợp. Bị cáo Đặng Công C có ba tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có một tiền sự về hành vi vận chuyển động vật rừng thông thường không có hồ sơ hợp pháp bị Công an huyện Tây Giang xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng, bị cáo đang bị truy tố trong một vụ án khác, nên áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn thỏa đáng.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Cơ Lâu L đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại Công ty Cổ phần Tài chính và Phát triển NL, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[7] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

7.1.Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh của bị cáo Cơ Lâu L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh; 01 cái cân nhãn hiệu Bến Thành và số tiền 4.710.000 đồng của bị cáo Đặng Công C.

7.2. Trả lại cho bị cáo Cơ Lâu L số tiền 2.700.000 ( hai triệu bảy trăm ngàn đồng).

7.3.Tuyên tiêu hủy: 01 sim số 0326.777.099 của bị cáo Cơ Lâu L; 01 sim số 0972.602.284 của bị cáo Đặng Công C; 01 lưỡi cưa bằng kim loại bị gãy; 01 cưa tay màu đỏ, dài 43 cm; 01 cái rựa dài 59 cm;19 đoạn vỏ bọc bằng nhựa hình ống tròn, màu đen; 01 đoạn dây đồng hình ống tròn dài 39 cm; 01 đoạn dây đồng hình ống tròn dài 40 cm; 01 đoạn dây dài 65 cm gồm 01 đoạn dây đồng hình ống tròn dài 30 cm và 01 sợi dây điện màu xanh dài 35 cm.

7.4. Quá trình truy tố, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Giang đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp gồm: trả lại cho bà BhLing Thị S 01 xe mô tô Biển kiểm soát 43F - 484.64, nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu xanh; trả lại cho bà Nguyễn Thị M 01 xe mô tô Biển kiểm soát 43. 773 - K1, nhãn hiệu HONDA WIN 100 màu đen, là hoàn toàn phù hợp nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

7

[8] Về án phí: Bị cáo Đặng Công C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cơ Lâu L.

Từ những căn cứ và nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,h,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Cơ Lâu L.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm h,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đặng Công C.

1. Tuyên bố:

  • - Bị cáo Cơ Lâu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Bị cáo Đặng Công C phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Xử phạt: bị cáo Cơ Lâu L 06 ( sáu ) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 ( mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/5/2024.

Giao bị cáo Cơ Lâu L cho UBND xã TH, huyện TG, tỉnh Quảng Nam giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt: bị cáo Đặng Công C 04 (bốn) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến ngày 28/02/2024. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1.Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh của bị cáo Cơ Lâu L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh; 01 cái cân nhãn hiệu Bến Thành và số tiền 4.710.000 ( bốn triệu bẩy trăm mười ngàn đồng) của bị cáo Đặng Công C.

2.2.Trả lại cho bị cáo Cơ Lâu L số tiền 2.700.000 ( hai triệu bảy trăm ngàn đồng).

2.3.Tuyên tiêu hủy: 01 sim số 0326.777.099 của bị cáo Cơ Lâu L; 01 sim số 0972.602.284 của bị cáo Đặng Công C; 01 lưỡi cưa bằng kim loại bị gãy; 01 cưa tay

8

màu đỏ, dài 43 cm; 01 cái rựa dài 59 cm; 19 đoạn vỏ bọc bằng nhựa hình ống tròn, màu đen; 01 đoạn dây đồng hình ống tròn dài 39 cm; 01 đoạn dây đồng hình ống tròn dài 40 cm; 01 đoạn dây dài 65 cm gồm 01 đoạn dây đồng hình ống tròn dài 30 cm và 01 sợi dây điện màu xanh dài 35 cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng lúc 10 giờ 20 phút, ngày 11/4/2024 giữa Công an huyện Tây Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Giang).

3.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Công C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cơ Lâu L.

4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (21/5/2024). Riêng chị BhLing Thị S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐ kiểm tra I - TAND Tối cao;
  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND h. Tây Giang;
  • - Công an h. Tây Giang;
  • - THADS h.Tây Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hô sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Hân

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HSST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 04/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cơ Lâu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger