TAND HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2024/HSST Ngày 26/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Vương; Bà La Thị Thành.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông: Trương Văn T - Kiểm sát viên
Ngày 26/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 08/2024/TLST-HS ngày 14/10/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: VÀNG VĂN Â; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22/10/1978, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Số CCCD: [...] cấp ngày 07/04/2021 do cục C1 và TTXH cấp; Trình độ học vấn: 02/12; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; Con ông Vàng Văn Í, sinh năm 1941 (đã chết) và bà Hà Thị L, sinh năm 1953 (đã chết); Gia đình bị cáo có 07 anh, chị, em; bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có vợ là Hà Thị H, sinh năm 1986 (đã chết) và 02 người con, đều sinh năm 2015; Tiền án: ngày 18/12/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo chưa đi chấp hành bản án này do đang được hoãn chấp hành án; Tiền sự: không;Về nhân thân: ngày 28/3/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xử phạt 11 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong bản án này, đã được xóa án tích;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/6/2024, tạm giam từ ngày 08/07/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay (Có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện T).
2. Họ và tên: LÒ VĂN T1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 17/07/1995, tại Than Uyên Lai C; Nơi cư trú: khu I thị, trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Số CCCD: [...] cấp ngày 13/04/2021 do cục C1 và TTXH cấp; Trình độ học vấn: 6/12; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; con ông Lò Văn L1, sinh năm 1967 và bà Chè Thị X, sinh năm 1967; Gia đình bị cáo có 02 anh, em; bị cáo là con thứ 2; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: ngày 07/06/2024, bị Chủ tịch UBND thị trấn T ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 07/06/2024, bị cáo chưa chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/06/2024 tạm giam từ ngày 08/07/2024; tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay (Có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện T).
Người làm chứng: Lò Văn H1, sinh năm 1982.
Nơi cư trú : Bản N, xã P huyện T tỉnh Lai Châu (vắng mặt không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 29/6/2024, Vàng Văn  đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết từ nhà tại bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu đến bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroin để sử dụng và bán. Khi đến bản Noong Thăng, Vàng Văn  gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết. Qua nói chuyện,  đã mua của người phụ nữ đó 01 gói Heroin (được gói bằng mảnh nilon màu xanh) với số tiền 300.000 đồng. Mua được H2, Vàng Văn  mang về nhà bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, cấu ra một ít sử dụng bằng hình thức hít. Số còn lại,  cất giấu trên mái nhà trong bếp của gia đình không cho ai biết.
Đến khoảng 13 giờ ngày 29/6/2024, Vàng Văn  đang ở nhà thì có Lò Văn T1 (sinh 17/7/1995; nơi cư trú tại khu I thị trấn T, tỉnh Lai Châu) và Lò Văn H1 (sinh 01/01/1982; cư trú tại N, xã P, huyện T) đến nhà Â. H1 đứng ở ngoài còn T1 trực tiếp đi vào trong nhà gặp  hỏi mua H2,  nói: không có. T1 nói với  bán cho T1 300.000 đồng thì  đồng ý.  đi ra ngoài cửa nhà, T1 đi theo sau và nhét vào trong túi quần bên trái của  300.000 đồng. Vàng Văn  đi vào trong bếp, lấy ở trên mái bếp ra 01 gói heroin (được gói bằng bằng nilon màu xanh) bán cho T1. Sau đó,  vào giường trong nhà mình ngủ, còn T1 mở gói Heroin ra, cấu lấy một ít cho vào mảnh giấy bạc từ vỏ bao thuốc lá của T1 sử dụng bằng hình thức hít ngay tại bàn uống nước trong nhà Â. Ngay lúc đó, Lò Văn H1 từ ngoài đi vào, T1 đã cho H1 cùng sử dụng Heroin. Tại thời điểm T1 và H1 sử dụng H2, Vàng Văn  nằm ngủ ở giường phòng trong nhà nên không biết. Sau khi sử dụng Heroin, H1 đi ra ngoài, còn T1 ở trong nhà  gói số Heroin còn lại gói thêm hai lớp ni lon màu xanh, ngậm vào trong khoang miệng rồi đi ra điều khiển xe mô tô chở H1 đi về. Đến hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Lò Văn T1 và Lò Văn H1 đi về đến bản đội 9 xã P, huyện T thì bị tổ công tác Công an xã P phát hiện, bắt quả tang đối với Lò Văn T1, thu giữ 01 gói Heroin trong khoang miệng của Lò Văn T1 và 01 xe mô tô, nhãn hiệu CHICILONG BKS 25F1-3923 của Lò Văn T1.
Căn cứ lời khai của Lò Văn T1, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh khám xét khẩn cấp địa điểm đối với Vàng Văn Â. Quá trình giữ người, thu giữ của Vàng Văn  số tiền 200.000 đồng do bán Heroin mà có.
Tại kết luận 74 ngày 29/6/2024 của người giám định theo vụ việc Công an huyện T và Kết luận số 900 ngày 02/7/2024 của của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T1 gửi giám định có khối lượng 0,14 gam; là ma túy, loại: Heroine”.
Tại kết luận số 904 ngày 02/7/2024 của của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số tiền 200.000 đồng thu giữ của Vàng Văn  gồm 4 tờ 50.000 đồng đều là tiền thật”.
Vật chứng: 0,14 gam Heroine thu giữ của Lò Văn T1, Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật).
Vật chứng còn lại: 01 xe mô tô, nhãn hiệu CHICILONG BKS 25F1-3923, thu giữ của Lò Văn T1; một phong bì bên trong đựng 03 mảnh ni lon; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; số tiền 200.000 đồng thu giữ của Vàng Văn Â; các vật chứng còn lại hiện đang được lưu giữ, bảo quản theo quy định.
Cáo trạng số 127/CT-VKS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Vàng Văn  phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251/Bộ luật hình sự; bị cáo Lò Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên cáo bị cáo Vàng Văn  phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Lò Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56/Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vàng Văn Â; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn T1; đề nghị tuyên phạt bị cáo Vàng Văn  mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý tại Bản án số 22/2023/HSST, ngày 18/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Tuyên phạt bị cáo Lò Văn T1 mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST.
Về vật chứng đề nghị áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu 01 xe mô tô nhãn hiệu CHICILONG BKS 25F1-3923 của Lò Văn T1: tịch thu số tiền 200.000 đồng, truy thu 100.000 đồng tiền bán trái phép chất ma tuý của Vàng Văn  để sung vào ngân sách Nhà nước; Tịch thu 03 mảnh ni lon và 02 phong bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Sau khi mua trái phép 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng, đến khoảng 13 giờ ngày 29/6/2024, tại bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Vàng Văn  đã bán trái phép 01 gói Heroin cho Lò Văn T1 lấy 300.000 đồng. Lò Văn T1 mang Heroin về thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, mục đích để sử dụng. Vào hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày khi T1 đi đến bản đội 9 xã P, huyện T thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroin có khối lượng 0,14 gam.
Hành vi bị cáo Vàng Văn  thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251/Bộ luật hình sự; Hành vi bị cáo Lò Văn T1 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi các bị cáo Vàng Văn Â, Lò Văn T1 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4]. Về mục đích phạm tội của các bị cáo: Vàng Văn  mua trái phép chất ma túy, ngoài việc sử dụng cho bản thân, bị cáo còn mục đích bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác nhằm thu lời bất chính; Bị cáo Lò Văn T1 tàng trữ trái phép chất ma túy là để phục vụ nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân bị cáo.
[5]. Về nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vàng Văn Â, Lò Văn T1 đều là những người được sinh ra trong những gia đình lao động, nhưng các bị cáo không chịu khó tu dưỡng rèn luyện, làm ăn chân chính. Đối với bị cáo Vàng Văn Â, bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có một tiền án về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa thi hành và 01 tiền án (11 năm tù) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy đã được xóa án tích, song không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành mua bán trái phép chất ma túy. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo Lò Văn T1 mặc dù có tuổi đời còn khá trẻ, có 01 tiền sự, chưa thi hành xong nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại các địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho cả hai bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vàng Văn  phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích, thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/Bộ luật hình sự. Bị cáo Lò Văn T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52/Bộ luật hình sự.
[6]. Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu CHICILONG BKS 25F1-3923 của Lò Văn T1 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; số tiền 200.000 đồng thu giữ của Vàng Văn  là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước, số tiền 100.000 đồng bán trái phép chất ma tuý mà có của Vàng Văn  chưa bị thu giữ, cần truy thu để sung vào ngân sách Nhà nước; 0,14 gam Heroine của Lò Văn T1 đã được dùng làm mẫu vật gửi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên HĐXX không xem xét; 03 mảnh ni lon, 02 phong bì niêm phong vật chứng là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ.
[7]. Các vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc Heroine, Vàng Văn  khai mua từ một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.
Lò Văn H1 là người đã đi cùng Lò Văn T1, trên đường T mang Heroin về thì T1 bị Công an huyện T bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định: Hít không góp tiền mua H2 và cũng không biết việc T1 còn H2 tàng trữ trên người nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý hình sự đối với Lò Văn H1 là có căn cứ. Lò Văn T1 cho Lò Văn H1 sử dụng chất ma tuý, xét thấy đây là hành vi đơn giản của những người nghiện chất ma tuý, cho nhau sử dụng ma tuý nên hành vi của Lò Văn T1 không cấu thành tội Tổ chức việc sử dụng trái phép chất ma tuý.
Lò Văn T1 và Lò Văn H1 sử dụng Heroin trong nhà Vàng Văn  nhưng  không biết, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Lò Văn Â1 về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn H1, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định.
[8]. Về án phí: Cả hai bị cáo đều phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
[9]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56/Bộ luật hình sự (đối với Vàng Văn Â); Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự (đối với Lò Văn T1); điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Áp dụng đối với cả hai bị cáo).
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Văn  phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo Lò Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Văn  03 (ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, được trừ 09 ngày tạm giữ, tại Bản án số 22/2023/HSST, ngày 18/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, buộc bị cáo phải chịu chung hình phạt của cả hai bản án là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2024.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T1 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho cả hai bị cáo.
3. Về vật chứng: Tịch thu 01 xe mô tô nhãn hiệu CHICILONG BKS 25F1-3923 của Lò Văn T1; Tịch thu 200.000 đồng, truy thu 100.000 đồng của Vàng Văn  để sung vào ngân sách Nhà nước; Tịch thu 03 mảnh ni lon, 02 phong bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ.
Các vật chứng, đồ vật, tài sản nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.
4. Về án phí: Các bị cáo Vàng Văn Â, Lò Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Trung Phước |
Bản án số 04/2024/HSST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 04/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng Văn  mua trái phép chất ma tuý và bán lại cho Lò Văn T1
