Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HSST

Ngày: 10/01/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Trần Đức Hòa
  • 2. Bà Trần Thị Chín.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đàm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 165/2023/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh năm 1998, tại Bình Phước.

Nơi cư trú: Thôn E, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Nùng, Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn L và bà Hứa Thị N; Bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con lớn trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1976.(Có mặt).

HKTT: Thôn E, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

- Người làm chứng: Anh Lý Văn L1, sinh năm 1987. (Vắng mặt).

HKTT: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 20 giờ ngày 20/9/2023, Hoàng Văn T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0399506121 gọi cho một người tên N1 (không rõ nhân thân, lý lịch) hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá, N1 đồng ý và hẹn T đến khu vực gần cây xăng “N" thuộc thôn H, xã T, huyện B để giao dịch (sau khi liên lạc T đã xóa nhật ký cuộc gọi trong máy). Sau đó T điều khiển xe Môtô biển số: 51X4-9148 (mượn của ông Hoàng Văn L, cha ruột của T) đến điểm hẹn gặp N1. Do không đủ tiền nên T đưa trước cho N1 300.000 đồng và nợ lại 100.000 đồng, N1 đồng ý và đưa ma túy cho T. T cầm lấy gói ma túy bỏ vào túi áo rồi điều khiển xe môtô đi về đến thôn C, xã T thì bị Công an huyện B phối hợp Công an xã T yêu cầu dừng xe kiểm tra. T tự nguyện lấy gói ma túy trong túi áo ra giao nộp và khai nhận hành vi của mình như trên. Thấy có dấu hiệu phạm tội nên tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật (ký hiệu M có chữ ký của T) để điều tra, xử lý theo luật định

Quá trình điều tra, truy tố Hoàng Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nêu trên.

Kết luận định giá số: 976/KL-KTHS ngày 27/9/2023 của Phòng K – Công an tỉnh B, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1938 gam.

Tại bản cáo trạng số: 02/CTr –VKS ngày 12/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo Hoàng Văn T về “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt đề nghị áp dụng c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Hoàng Văn T từ 12 đến 18 tháng tù; buộc bị cáo nộp án phí theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tào bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố; nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định số 976/KL-KTHS ngày 27/9/2023 của Phòng K – Công an tỉnh B và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau:

Ngày 20/9/2023, Hoàng Văn T mua và cất giấu 0,1938 gam ma túy, loại Methamphetamine trong người với mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện B phối hợp với Công an xã T kiểm tra, bắt quả tang người cùng tang vật.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương; Bị cáo phạm tội có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác những vẫn cố ý thực hiện nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo là người dân tộc thiểu số và có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, sau khi xuất ngũ đến tháng 9/2021 được bổ nhiệm là Trung đội trưởng dân quân cơ động của xã P và là Tiểu đội trưởng lực lượng dự bị động viên, tháng 8/2023 được Trung đoàn trưởng Trung đoàn bộ binh A tặng giấy khen, nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • + Số ma túy còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
  • + 01 điện thoại hiệu POCO 01 điện thoại hiệu POCO, màu xanh đen của bị cáo sử dụng liên lạc mua ma tuý nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
  • + 01 xe Mô tô biển số: 51X4-9148 của Hoàng Văn L là bố của các bị cáo, khi giao xe cho bị cáo ông L không biết bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông L là đúng pháp luật, nên được chấp nhận.

[7] Đối với người có tên N1 bán ma túy cho T, không xác minh được nhân thân, lý lịch, không có tài liệu, chứng cứ khác; Cơ quan CSĐT - Công an huyện B tách ra xác minh xử lý sau, Viện kiểm sát không đề cập, nên không xem xét.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại.

[9] Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định số: 976 của Phòng K Công an tỉnh B.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại hiệu POCO, màu xanh đen (bể màn hình).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010113 ngày 13/12/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Hoàng Văn T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hs.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Văn Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HSST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 04/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Thuận phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Văn Thuận 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger