TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày: 22-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tất Dũng
2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Ma Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2023/TLST-HS, ngày 29 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Văn B, tên gọi khác: Không, sinh ngày 26/4/1981. Nơi sinh: Đ, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn L, đã chết, con bà: Trần Thị L1, sinh năm 1944; Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ bẩy trong gia đình; có vợ là: Lăng Thị M, sinh năm 1984, có 03 con chung, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2023 đến ngày 04/12/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lê Văn Q, tên gọi khác: Không, sinh ngày 26/6/1959. Nơi sinh: Đ, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/10; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Đ, con bà: Từ Thị L2, đều đã chết; Gia đình có 10 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; có vợ là: Trương Thị H, sinh năm 1958, có 04 con chung, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 76/2018/HSST ngày 08/11/2018 của TAND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Trần Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 07/6/1973. Nơi sinh: Đ, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T1, đã chết, con bà: Ninh Thị M1, sinh năm 1943; Gia đình có 10 anh em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; có vợ là: Dương Thị S, sinh năm 1970, có 03 con chung, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2023 đến ngày 04/12/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Phạm Văn D, tên gọi khác: Không, sinh ngày 01/02/1969. Nơi sinh: Đ, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm M, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn L3, đã chết, con bà: Triệu Thị T2, sinh năm 1941; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; có vợ là: Nguyễn Thị B1, sinh năm 1972 (đã ly hôn), có 03 con chung, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2023 đến ngày 04/12/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Hoàng Văn T3, sinh năm 1978 – Vắng mặt.
- Chị Diệp Thị H1, sinh năm 1989 – Vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: Xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng:
- Anh Hoàng Văn M2, sinh năm 1992 – Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Ông Diệp Văn Đ1, sinh năm 1954 – Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người chứng kiến: Ông Lại Văn N, sinh năm 1966 – Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 40 phút ngày 18/10/2023, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang 03 đối tượng gồm: Lê Văn Q, Hoàng Văn B, Trần Văn T đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh chắn được thua bằng tiền tại phòng khách nhà của anh Hoàng Văn T3, sinh năm 1988 và chị Diệp Thị H1, sinh năm1989 thuộc xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Lợi dụng hỗn loạn, Phạm Văn D đã bỏ chạy.
Vật chứng thu giữ tại vị trí các đối tượng đánh bạc gồm: 100 quân bài tổ tôm; số tiền 16.370.000 đồng tiền Ngân hàng N1; 01 chiếu cói kích thước: 1,8m x 1,6m; 01 bát sứ con màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với 03 đối tượng trên. Ngày 20/10/2023, Phạm Văn D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ giữ khẩn cấp.
Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18/10/2023, Hoàng Văn B đến nhà vợ chồng anh Hoàng Văn T3 và chị Diệp Thị H1 (T3 là cháu ruột của B). Khi đến nhà thấy vợ chồng anh T3 không có nhà, cửa mở. Lúc này B nảy sinh ý định rủ mọi người đến đánh bạc tại nhà của anh T3, rồi B gọi điện thoại cho Lê Văn Q, Phạm Văn D đến nhà anh T3. Lúc này Diệp Văn Đ1, sinh năm 1954, trú tại: xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang đi cùng Q nên Q rủ Đ1 cùng vào nhà anh Hoàng Văn T3. Trên đường đi, Q gặp Trần Văn T nên rủ T đi cùng. Khi cả nhóm đang ngồi uống nước tại nhà anh Hoàng Văn T3, B nói với mọi người “chơi một tỷ” ý nói chơi đánh bạc bằng hình thức đánh chắn được thua bằng tiền, thì Q, T3, D đồng ý. Sau đó, B đi mua bộ bài tổ tôm và quay lại cùng Q, T3, D ngồi lên chiếu để ở phòng khách, có bát con để ở đó từ trước bắt đầu đánh bạc. Lúc này, có anh Hoàng Văn M2, sinh năm 1992, trú tại xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến chơi và cùng Diệp Văn Đ1 ngồi xem các đối tượng đánh bạc.
Các đối tượng thống nhất đánh chắn như sau: Sử dụng bộ bài tổ tôm 100 cây chia thành 5 phần bài, mỗi phần bài 19 cây, còn thừa lại 5 cây để bốc cái. Người được bốc cái lấy 5 cây bài thừa gộp vào một phần bài bất kỳ nào đó rồi để vào trong đĩa (gọi là lọc để khi chơi, người chơi lần lượt rút các cây bài ở lọc lật lên để ăn hoặc ù) rồi người được bốc cái lấy từ trong phần bài lọc 01 cây bài bất kỳ nào đó và để vào 1 trong 4 phần bài còn lại rồi lấy một cây bất kỳ trong phần bài đó lật lên để xác định người nào được lấy phần bài đó và người đó gọi là cái, người được cái là người được đánh trước (đánh theo chiều kim đồng hồ). Sau khi bốc cái mỗi người nhận cho mình một phần bài và lên bài, người có cái đánh trước các nhà tiếp theo sẽ ăn hoặc bốc bài dưới lọc để đánh tiếp cho đến khi có nhà ù. Quy định về chắn và cạ: Chắn là có 02 cây bài giống nhau cả về hàng và chất; cạ là 02 cây cùng hàng với nhau nhưng khác chất. Khi bài có đủ 05 chắn và đủ cạ thì cây bài bốc ở dưới lọc phải cùng hàng và cùng chất với cây bài chờ ù trên bài thì mới được ù, còn khi bài đã có đủ 06 chắn trở lên và đủ cạ thì cây bài bốc ở dưới lọc chỉ cần cùng hàng với cây bài chờ ù trên bài thì được ù. Quy định về cước ù: ù to nhất là “kính tứ chỉ” thì mỗi người nộp cho người ù là 110.000 đồng; tiếp đến là ù “tám đỏ” thì mỗi người nộp cho người ù là 60.000 đồng; ù “thông trì” thì mỗi người nộp cho người ù là 40.000 đồng; ù “tôm,” thì mỗi người nộp cho người ù là 30.000 đồng, ù “lèo” thì mỗi người nộp cho người ù là 40.000 đồng, ù “xuông” thì mỗi người nộp cho người ù là 20.000 đồng.
Vị trí các bị cáo ngồi đánh bạc như sau: Các bị cáo ngồi trong phòng khách theo vị trí hình vuông. Nhìn từ ngoài cửa chính vào, bên tay phải là Trần Văn T, bên tay phải T là Phạm Văn D, bên tay phải D là Lê Văn Q, bên tay phải Q là Hoàng Văn B.
Khi đánh bạc Q sử dụng số tiền khoảng 3.500.000 đồng, T sử dụng số tiền khoảng 4.800.000 đồng, B sử dụng số tiền khoảng 3.600.000 đồng, D sử dụng số tiền khoảng 1.500.000 để tham gia đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 16.370.000 đồng tiền Ngân hàng N1; 100 quân bài; 01 bát sứ con màu trắng; 01 chiếu cói, kích thước (1,6 x 1,8)m. Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản theo quy định chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSĐH ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo: Hoàng Văn B, Lê Văn Q, Trần Văn T và Phạm Văn D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi như bản Cáo trạng truy tố. Các bị cáo xác định khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18/10/2023, tại nhà của vợ chồng anh Hoàng Văn T3 và chị Diệp Thị H1 thuộc xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên các bị cáo cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh chắn sát phạt nhau bằng tiền. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị xử lý như sau:
Tuyên bố các bị cáo: Hoàng Văn B, Lê Văn Q, Trần Văn T và Phạm Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hoàng Văn B từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
+ Phạm Văn D từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Trần Văn T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Văn Q từ 06 đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 16.370.000 đồng.
- Tịch thu tiêu hủy: 100 quân bài; 01 bát sứ con màu trắng; 01 chiếu cói, kích thước (1,6 x 1,8)m.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Buộc các bị cáo: Hoàng Văn B, Trần Văn T và Phạm Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm sung nộp Nhà nước. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Văn Q vì thuộc trường hợp người cao tuổi.
Trong phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo Lê Văn Q xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội. Các bị cáo còn lại xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tội danh: Hồi 11 giờ 40 phút ngày 18/10/2023, tại nhà của vợ chồng anh Hoàng Văn T3 và chị Diệp Thị H1 thuộc xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Hoàng Văn B, Lê Văn Q, Trần Văn T và Phạm Văn D đang đánh bạc bằng hình thức đánh chắn được thua bằng tiền thì bị Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 16.370.000 đồng và một số vật chứng có liên quan.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, là nguyên nhân làm phát các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy việc truy tố để xét xử đối với các bị cáo: Hoàng Văn B, Lê Văn Q, Trần Văn T và Phạm Văn D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 321 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
[2]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án. Hội đồng xét xử thấy:
Trong vụ án này các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có người tổ chức, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể, các bị cáo tiếp nhận ý chí của nhau và cùng thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo Hoàng Văn B là người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị công cụ để đánh bạc nên bị cáo tham gia vụ án với vai trò tích cực hơn các bị cáo khác.
[3]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy:
Các bị cáo Hoàng Văn B, Trần Văn T và Phạm Văn D có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Hoàng Văn B có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị cáo Lê Văn Q chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
4]. Về hình phạt: Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để quyết định hình phạt.
Đối với các bị cáo Hoàng Văn B, Trần Văn T và Phạm Văn D đều xuất thân từ người dân lao động, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có đơn xin cải tạo tại địa phương được địa phương xác nhận và đề nghị nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Lê Văn Q có nhân thân xấu, đã bị xét xử về cùng loại tội nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung; tuy nhiên cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm thu lời bất chính, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền nộp ngân sách nhà nước; tuy nhiên các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, có đơn xin miễn hình phạt bổ sung được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, hình phạt và các nội dung khác của vụ án tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Vật chứng của vụ án:
- Đối với số tiền 16.370.000 đồng thu giữ tại nơi đánh bạc, đây là số tiền mà các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 100 quân bài; 01 bát sứ con màu trắng; 01 chiếu cói, kích thước (1,6 x 1,8)m là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo Hoàng Văn B, Trần Văn T và Phạm Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Văn Q vì bị cáo là người cao tuổi.
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử. Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[10]. Ngoài ra, trong vụ án này, các bị cáo đánh bạc tại nhà của anh Hoàng Văn T3 và chị Diệp Thị H1 thuộc xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; tuy nhiên, việc các bị cáo đánh bạc anh T3 và chị H1 hoàn toàn không biết, không thu lợi và không có liên quan nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với Diệp Văn Đ1 và Hoàng Văn M2 có mặt tại nơi các bị cáo đánh bạc khi Công an bắt quả tang; tuy nhiên anh M2 và ông Đ1 không thực hiện hành vi đánh bạc nên không cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xem xét xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn B, Lê Văn Q, Trần Văn T và Phạm Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hoàng Văn B 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
+ Phạm Văn D 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Trần Văn T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Lê Văn Q 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2023. Quyết định tạm giam bị cáo Lê Văn Q 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Giao các bị cáo Hoàng Văn B, Phạm Văn D cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 16.370.000đ (Mười sáu triệu ba trăm bẩy mươi nghìn đồng) tiền ngân hàng N1.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bát sứ con màu trắng; 01 (một) chiếu cói kích thước 1,8 x 1,6m; 100 (một trăm) quân bài tổ tôm.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2024 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Hoàng Văn B, Trần Văn T và Phạm Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Văn Q.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Huy Bắc |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 22/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN về tội đánh bạc
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18/10/2023, Hoàng Văn B đến nhà vợ chồng anh Hoàng Văn T3 và chị Diệp Thị H1 (T3 là cháu ruột của B). Khi đến nhà thấy vợ chồng anh T3 không có nhà, cửa mở. Lúc này B nảy sinh ý định rủ mọi người đến đánh bạc tại nhà của anh T3, rồi B gọi điện thoại cho Lê Văn Q, Phạm Văn D đến nhà anh T3. Lúc này Diệp Văn Đ1, sinh năm 1954, trú tại: xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang đi cùng Q nên Q rủ Đ1 cùng vào nhà anh Hoàng Văn T3. Trên đường đi, Q gặp Trần Văn T nên rủ T đi cùng. Khi cả nhóm đang ngồi uống nước tại nhà anh Hoàng Văn T3, B nói với mọi người “chơi một tý” ý nói chơi đánh bạc bằng hình thức đánh chắn được thua bằng tiền, thì Q, T3, D đồng ý. Sau đó, B đi mua bộ bài tổ tôm và quay lại cùng Q, T3, D ngồi lên chiếu để ở phòng khách, có bát con để ở đó từ trước bắt đầu đánh bạc. Lúc này, có anh Hoàng Văn M2, sinh năm 1992, trú tại xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến chơi và cùng Diệp Văn Đ1 ngồi xem các đối tượng đánh bạc.
