Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc


Bản án số: 04/2024/HS-ST

Ngày: 07-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Đới Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Lù Thanh Xá
- Bà Lý Thị The

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST- HS ngày 25/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng A C - Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1999.

Nơi cư trú: Bản S, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng Le X - sinh năm 1971 (đã chết trước khi xét xử) và bà Pờ Mì G - sinh năm 1968; Bị cáo chưa có vợ, con; Gia đình bị cáo có 07 chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Tiền sự, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số: 20/2021/HS-ST ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/7/2024 cho đến nay (Có mặt).

- Bị hại: Công ty TNHH S.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Lò Thị T - Chức vụ Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Pờ Chu H - sinh năm 1970

Địa chỉ: Bản S, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. (Có mặt)

- Người làm chứng: Chị Ly Xo D - sinh năm 1988

Địa chỉ: Bản S, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H1 - Trợ giúp viên pháp lý của T1 tân Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/7/2024, Công an xã P, huyện M tiếp nhận đơn trình báo của anh P Chu Hừ về việc: Vào ngày 15/7/2024, Công ty S bị mất 01 máy cắt cỏ bốn thì, nhãn hiệu Honda mới mua ngày 06/7/2024 với giá 5.500.000đ. Đến sáng ngày 16/7/2024, anh H phát hiện chiếc máy cắt cỏ này tại nhà của chị Ly Xo De . Anh H đã chuộc lại chiếc máy này với giá 300.000 đồng, sau đó đem đến Công an xã P Sủ trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, Công an xã P đã tiến hành kiểm tra, xác minh theo quy định và chuyển hồ sơ cùng vật chứng có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã xác định được như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 15/7/2024, Vàng A C một mình đi bộ từ nhà ở bản S, xã P, huyện M vào rừng để tìm hái quả dé về bán. Khi đi đến khu vực vườn sâm của Công ty trách nhiệm hữu hạn S, thuộc bản Sín Chải B, xã P, quan sát thấy trong lán của vườn sâm không có người trông coi, nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, C đi vào trong lán và quan sát xung quanh thì phát hiện dưới gầm giường có để 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen. Cha đã lấy chiếc máy này đem đến khu rừng cách lán của vườn sâm khoảng 30m cất giấu, rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Vàng A C đi bộ quay lại chỗ cất giấu chiếc máy cắt cỏ trộm cắp được trước đó, rồi lấy chiếc máy đem đến quán tạp hoá của chị Ly Xo D, tại bản Sín Chải B, xã P Sủ bán cho chị D với giá 300.000 đồng. Số tiền bán chiếc máy cắt cỏ trộm cắp được, C đã đem tiêu xài hết. Tại cơ quan điều tra, Vàng A C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá số 12/KL-HĐĐGTS ngày 25/07/2024, của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: Chiếc máy cắt cỏ bốn thì, nhãn hiệu Honda, loại MegaTake MG35-45 của Công ty trách nhiệm hữu hạn S bị mất cắp có trị giá là 5.225.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 87/CT-VKS-MT ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Vàng A C về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Vàng A C mức án từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trả lại cho Công ty TNHH S 01 chiếc máy phát cỏ bốn thì, nhãn hiệu Honda. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng tiền bị cáo bán máy phát cỏ mà có.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè.

Đại diện theo ủy quyền của bị hại tại phiên tòa trình bày: Đề nghị được trả lại chiếc máy phát cỏ là tài sản bị cáo đã trộm cắp, thuộc sở hữu của Công ty TNHH S. Không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Xét lời khai nhận của bị cáo Vàng A C tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 15/7/2024, tại lán trông coi vườn Sâm của Công ty trách nhiệm hữu hạn S, tại bản Sín Chải B, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu, Vàng A C đã trộm cắp 01 máy cắt cỏ bốn thì, nhãn hiệu Honda, loại MegaTake MG35-4S, trị giá 5.225.000 đồng, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH S.

Bị cáo Vàng A C có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi trộm cắp 01 máy cắt cỏ bốn thì, nhãn hiệu Honda, loại MegaTake MG35-4S, trị giá 5.225.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Tại bản án số: 20/2021/HS-ST ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

Do bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo là người nghiện chất ma túy. Vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, trong nhà không có tài sản có giá trị lớn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6]. Về vật chứng của vụ án: 01 máy cắt cỏ bốn thì, nhãn hiệu Honda, loại MegaTake MG35-4S. Quá trình điều tra, xác định chiếc máy cắt cỏ là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH S nên cần trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Số tiền 300.000 đồng bị cáo bán chiếc máy phát cỏ do trộm cắp mà có, bị cáo đã tiêu sài hết nên cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định.

[7]. Về những vấn đề khác:

Trong quá trình điều tra vụ án, Vàng A C khai nhận đã đem bán chiếc máy cắt cỏ trộm cắp được của Công ty TNHH S. Khi bán chiếc máy cắt cỏ cho D, Vàng A C đã nói rõ đó là tài sản do C trộm cắp mà có, nhưng D vẫn mua với giá 300.000 đồng. Tuy nhiên, Ly Xo D khai nhận không được biết về nguồn gốc chiếc máy cắt cỏ mà Cha bán cho D. Ngoài lời khai của C, không còn chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm của Ly Xo De .

[8]. Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo của xã. Nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Vàng A C 01 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 31/7/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Trả lại cho Công ty TNHH S 01 chiếc máy cắt cỏ bốn thì, nhãn hiệu Honda. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng đối với bị cáo Vàng A C.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè được lập vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 11 tháng 10 năm 2024)

  4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Mường Tè;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện theo ủy quyền của bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Mường Tè;
  • - Công an huyện Mường Tè;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu HS – HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đới Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 04/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger