|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày 12/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đô.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Tấn Ba.
- Bà Phạm Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nhật Lam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (điểm cầu trung tâm) và tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi (điểm cầu thành phần) xét xử công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/HSST ngày 09/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2024/QĐXXST-HS ngày 22/10/2024 đối với:
1. Bị cáo: Nguyễn Hồng T, sinh ngày 28/7/1992 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Xóm G, thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn X (đã chết) và bà Võ Thị P; vợ, con: Chưa có; căn cước công dân số [...]; tiền án: Năm 2024, bị Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa xử phạt 06 tháng 07 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 14/2024/HS-ST, ngày 04/3/2024; tiền sự: Năm 2023, bị Công an thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền với số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo Quyết định số 95/QĐ-XPHC ngày 10/11/2023; nhân thân: Năm
2018, bị Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác bằng hình thức phạt tiền với số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 13/7/2018; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2024, đến ngày 01/8/2024 thì bị bắt tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại:
- Chị Đỗ Hà Mỹ L, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
- Ông Trần Văn D, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Thúy N; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt tại phiên tòa.
4. Người làm chứng:
- Bà Hà Thị Kiều O, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
- Bà Võ Thị Ly Đ, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong năm 2022 và năm 2024, bị cáo Nguyễn Hồng T (sau đây viết tắt là bị cáo T) đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 28/5/2022, T điều khiển xe môtô Exciter màu đỏ (không xác định được biển số) đi từ nhà của bị cáo ở thôn P, xã T, huyện S đến Công ty S ở xã B, huyện B để làm việc. Khi T điều khiển xe đi ngang qua nhà chị Đỗ Hà Mỹ L (sau đây viết tắt là chị L) ở thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi thì xe môtô sắp hết xăng, thấy nhà chị L đang dựng trại tổ chức tiệc đám cưới nên T dừng xe trước cổng rồi đi bộ vào gặp bà Hà Thị Kiều O (sau đây viết tắt là bà O, là mẹ ruột của chị L) hỏi xin xăng nhưng bà O nói không có xăng và quay mặt đi. Lúc này, T thấy trên bàn tròn đặt ở sân có 02 điện thoại di động (là tài sản của chị L và bà O) không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, T đi lại gần bàn tròn, lén lút
lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Note 11 màu xanh dương của chị L, rồi quay ra điều khiển xe rời khỏi hiện trường.
Ngày 29/5/2022, T đến tiệm điện thoại ở xã B (không xác định được tên, địa chỉ cụ thể) để mở khóa điện thoại Xiaomi Note 11, cài đặt lại chương trình điện thoại và sử dụng điện thoại này, sau đó T bán điện thoại này được cho một người đàn ông (không xác định được lai lịch) với số tiền 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) để tiêu xài cá nhân.
Theo Kết luận định giá tài sản số 15/KL.HĐĐGTS ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận 01 (một) điện thoại di động Xiaomi Note 11 trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 18/7/2024, T điều khiển xe môtô Sirius, biển số 92L8-4389 (sau đây viết tắt là xe 92L8-4389) đi từ nhà của T ở xã T đến xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Khi đi đến quán nước của ông Trần Văn D (sau đây viết tắt là ông D) ở thôn X, xã B thì T vào quán để mua nước dừa nhưng gọi không có ai trả lời nên T đi vào khu vực nhà ông D, thấy 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart, màu đen của ông D đang sạc pin để trên tủ lạnh, không có ai trông coi nên T đã lén lút lấy điện thoại này rồi điều khiển xe đi về nhà.
Theo Kết luận định giá tài sản số 73/KL.HĐĐGTS ngày 31/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart, màu đen có giá trị là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Cáo trạng số 145/CT-VKS-BS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi quyết định truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, buộc bị cáo T bồi thường cho chị L giá trị điện thoại di động Xiaomi Note 11 là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Tranh tụng tại phiên toà, bị cáo T thừa nhận bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 28/5/2022, ngày 18/7/2024 như đã nêu, xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội; bị cáo không có tranh luận với
luận tội của Kiểm sát viên, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cải tạo, giáo dục bản thân để sớm trở về với gia đình.
Tại phiên tòa, bị hại là chị L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và yêu cầu bị cáo T bồi thường giá trị điện thoại di động Xiaomi Note 11 là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội như mô tả trong cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Bị cáo T là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 28/5/2022, bị cáo T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động Xiaomi Note 11 màu xanh dương trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) của chị L tại thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi nên hành vi của bị cáo T đã nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, ngày 18/7/2024 bị cáo T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động Vsmart, màu đen trị giá 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) của ông D tại thôn X, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Mặc dù giá trị điện thoại di động hiệu V bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng trước đó, ngày 10/11/2023, bị cáo T bị Công an thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và ngày 04/3/2024, bị cáo T đã bị Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa xử phạt 06 tháng 07 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo lén lút chiếm đoạt điện thoại di
động hiệu Vsmart trong lần này đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[3.1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T nên bị cáo T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.2] Trong vụ án này, bị cáo T 02 (hai) lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như đã nêu, mỗi lần đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.3] Bị cáo T đã nhiều lần bị kết án và bị xử phạt hành chính nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội dẫn đến bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án này, điều đó thể hiện bị cáo T có thái độ xem thường pháp luật, không có khả năng cải tạo, giáo dục bản thân.
[4] Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo T như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải bắt bị cáo T chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong thời hạn nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh tội phạm.
[5] Về xử lý vật chứng và dân sự:
[5.1] Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại 01 (một) điện thoại di động Vsmart cho ông D là phù hợp với quy định của pháp luật; ông D đã nhận lại tài sản là điện thoại di động Vsmart, không có yêu cầu gì về dân sự.
[5.2] Đối với xe máy Sirius màu đen bạc, biển kiểm soát 92L8-4389 mà bị cáo T sử dụng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 18/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ủy thác cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Nam xác minh đến nay chưa có kết quả trả lời nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B sẽ tiếp tục xác minh và đề nghị xử lý sau là phù hợp.
[5.3] Đối với xe máy Exciter màu đỏ bị cáo T sử dụng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 28/5/2022, bị cáo T không nhớ biển số xe và không nhớ
tên chủ sở hữu của xe mô tô trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không có cơ sở tiến hành xác minh, xử lý.
[5.4] Bị hại là chị L yêu cầu bị cáo T bồi thường bồi thường giá trị điện thoại di động Xiaomi Note 11 là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) là có căn cứ, phù hợp với quy định Điều 48 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo T phải bồi thường cho chị L số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Đề nghị Kiểm sát viên về tội danh đối với bị cáo T phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện; đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và đề nghị các vấn đề khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T mức hình phạt 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 01/8/2024).
- Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, buộc bị cáo Nguyễn Hồng T có nghĩa vụ bồi thường cho chị Đỗ Hà M L số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Hồng T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đô |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
