Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN,

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HS-ST

Ngày 10-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Sỹ.
  2. Ông Nguyễn Cảnh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 214/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn H; sinh ngày 04-01-1982 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi ĐKHKTT: Tổ B, khu phố F, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Số nhà A, đường T, tổ A, khu phố A, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ sắt; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Văn Đ, mẹ: Nguyễn Thị B; có vợ (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24-11-2023 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Mai Huy H1; sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ A, khu phố A, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Võ Thị Mỹ L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ A, khu phố A, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Lê Thái H2; sinh năm 1980; nơi cư trú: Số nhà E, đường H, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Người làm chứng: Bà Bùi Thị C; sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tấn H và chị Võ Thị Mỹ L có quan hệ quen biết nhau. Khoảng tháng 10-2021, H có cho chị L vay số tiền 15.000.000 đồng, thoả thuận chị L sẽ góp 750.000 đồng/ngày trong vòng 20 ngày thì trả hết nợ, nhưng chị L chỉ trả được 06 ngày thì không có khả năng trả tiếp. H đã nhiều lần đến nhà đòi nhưng chị L không trả nợ nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà L lấy tài sản để yêu cầu chị L trả nợ. Khoảng 12 giờ ngày 01-4-2022, do biết trước việc chị L và anh Mai Huy H1 (người sống chung với chị L) không có ở nhà nên H thuê một người lái xe lôi (chưa rõ lai lịch) đến nhà anh H1tổ A, khu phố A, phường T, thành phố Q. Đến nơi, H nói người lái xe lôi chờ ở cạnh tường rào sân nhà anh H1 rồi H nhảy qua tường rào vào trong, dùng 01 cờ-lê (loại 08mm, có dòng chữ “USA Standard”) cạy cửa trước đột nhập vào phòng khách và lấy đi: 01 máy hàn điện tử hiệu TAYDY, 01 máy hàn điện tử hiệu TIGER, 01 máy khoan bê-tông cầm tay hiệu BOSCH, 01 máy nén khí hiệu MEIJI, 01 máy hàn cơ hiệu Hồng Ký, 01 máy cắt sắt hiệu CGI-30, 01 máy cắt sắt hiệu GIANYA 350, 01 aptomat hiệu CHNT 160A có gắn 01 dây điện 3 pha, 02 bộ dây ống cao su, 01 sợi dây hàn và 05 cuộn dây điện. H chuyển số tài sản trên qua tường rào cho người lái xe chuyển lên xe lôi chở về nhà H tại số nhà A, đường T, phường Đ để cất giấu. Sau đó, H gọi điện cho chị L nhưng không được nên gọi cho bà Bùi Thị C (mẹ ruột của chị L) để nói về việc mình lấy tài sản ở nhà chị L, khi nào chị L trả tiền nợ thì H sẽ trả lại tài sản. Bà C gọi điện thông báo cho anh H1 biết. Đến ngày 03-4-2022, trong lúc chị L đang ở Quảng Ngãi, H tiếp tục gọi điện cho chị L nói về việc mình đã lấy tài sản tại nhà anh H1 để cảnh cáo chị L, buộc chị L phải trả tiền nợ cho H. Sáng ngày 06-4-2022, anh H1 về nhà, kiểm tra phát hiện mất tài sản nên đã đến Công an phường T trình báo sự việc. Khoảng 12 giờ ngày 06-4-2022, H thuê anh Nguyễn Lê Thái H2 lái xe ba gác chở những tài sản trên đến trả lại tại nhà anh H1.

Kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐGTS ngày 27-5-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận về tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 20.558.000 đồng, cụ thể:

  • - 01 máy hàn điện tử hiệu TAYDY màu đỏ, đã qua sử dụng, trị giá 800.000 đồng;
  • - 01 máy hàn điện tử hiệu TIGER màu cam, đã qua sử dụng, trị giá 700.000 đồng;
  • - 01 máy khoan bê tông cầm tay hiệu BOSCH màu xanh – đen, đã qua sử dụng, trị giá 1.700.000 đồng;
  • - 01 máy nén khí hiệu MEIJI có gắn mô tơ, đã qua sử dụng, trị giá 3.300.000 đồng;
  • - 01 máy hàn cơ hiệu Hồng Ký, đã qua sử dụng, trị giá 3.800.000 đồng;
  • - 01 máy cắt sắt hiệu CGI-30, đã qua sử dụng, trị giá 5.400.000 đồng;
  • - 01 máy cắt sắt hiệu GIANYA 350, đã bị hư hỏng, trị giá 200.000 đồng;
  • - 01 aptomat hiệu CHNT 160A, có gắn 01 dây điện 3 pha dài 17m60, đã qua sử dụng, trị giá 1.480.000 đồng;
  • - 01 bộ dây ống cao su, màu xanh – đỏ, dài 11m80, có gắn 02 đồng hồ áp suất, đã qua sử dụng, trị giá 545.000 đồng;
  • - 01 bộ dây ống cao su, màu đỏ – đen, dài 19m50, có gắn 02 đồng hồ áp suất, đã qua sử dụng, trị giá 738.000 đồng;
  • - 01 sợi dây hàn bằng cao su màu đen, dài 14m, đã qua sử dụng, trị giá 840.000 đồng;
  • - 01 cuộn dây điện màu đỏ, loại 2.5mm², dài 48m70, có gắn 01 phích cắm màu trắng hiệu Điện Quang và 01 ổ cắm loại 03 lỗ màu cam hiệu Sopoka, đã qua sử dụng, trị giá 332.000 đồng;
  • - 01 cuộn dây điện màu xanh dương, loại 2.5mm², dài 40m50, có gắn 01 phích cắm màu trắng hiệu Sopoka và 01 ổ cắm loại 03 lỗ màu cam hiệu Sopoka, đã qua sử dụng, trị giá 283.000 đồng;
  • - 01 cuộn dây điện màu vàng, loại 2.5mm², dài 12m có gắn 01 phích cắm màu trắng không rõ nhãn hiệu và 01 ổ cắm loại 03 lỗ màu trắng hiệu Conip CN-03, đã qua sử dụng, trị giá 112.000 đồng;
  • - 01 cuộn dây điện màu vàng, loại 2.5mm², dài 19m50, có gắn 01 phích cắm màu vàng hiệu Vinakip và 01 ổ cắm loại 03 lỗ màu cam hiệu Sopoka đã qua sử dụng trị giá 157.000 đồng;
  • - 01 cuộn dây điện màu vàng, loại 2.5mm², dài 23m50, có gắn 01 ổ cắm loại 03 lỗ màu cam hiệu Sopoka, đã qua sử dụng, trị giá 171.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã tạm giữ và trả lại cho anh Mai Huy H1: 01 máy hàn điện tử hiệu TAYDY, 01 máy hàn điện tử hiệu TIGER, 01 máy khoan bê tông cầm tay hiệu BOSCH, 01 máy nén khí hiệu MEIJI, 01 máy hàn cơ hiệu Hồng Ký, 01 máy cắt sắt hiệu CGI-30, 01 máy cắt sắt hiệu GIANYA 350, 01 aptomat hiệu CHNT 160A có gắn 01 dây điện 3 pha, 02 bộ dây ống cao su, 01 sợi dây hàn và 05 cuộn dây điện, hiện còn đang tạm giữ từ Nguyễn Tấn H 01 cờ lê loại 8mm, có dòng chữ “USA Standard”. Anh H1 yêu cầu H bồi thường giá trị 03 vỏ bình oxi và 01 máy cắt sắt vì cho rằng H là người làm mất các tài sản này với số tiền là 10.000.000 đồng; H chưa bồi thường cho anh H1.

Bản cáo trạng số 123/CT-VKSQN ngày 03-9-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Tấn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như nội dung của Cáo trạng và các chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập; bị cáo đã ăn năn hối cải.

Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173: các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Tấn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự; ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho anh Mai Huy H1 giá trị 03 vỏ bình oxi và 01 máy cắt sắt bị mất với số tiền là 10.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu, tiêu hủy 01 cờ lê loại 8mm, có dòng chữ “USA Standard”.

Bị cáo Nguyễn Tấn H thống nhất như lời luận tội của Kiểm sát viên, không có lời nào bào chữa hay tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái và xin Toà xử phạt nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại.

[2] Bị cáo Nguyễn Tấn H thực hiện hành vi bị truy tố khi bị cáo đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 01-4-2022 bị cáo lợi dụng lúc vắng nhà của anh Mai Huy H1 lấy đi một số tài sản của anh H1 gồm: 01 máy hàn điện tử hiệu TAYDY, 01 máy hàn điện tử hiệu TIGER, 01 máy khoan bê tông cầm tay hiệu BOSCH, 01 máy nén khí hiệu MEIJI, 01 máy hàn cơ hiệu Hồng Ký, 01 máy cắt sắt hiệu CGI-30, 01 máy cắt sắt hiệu GIANYA 350, 01 aptomat hiệu CHNT 160A có gắn 01 dây điện 3 pha, 02 bộ dây ống cao su, 01 sợi dây hàn và 05 cuộn dây điện, có tổng giá trị là 20.558.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Sau khi lấy được số tài sản nêu trên, bị cáo đã 02 lần gọi điện thoại cho chị Võ Thị Mỹ L và người nhà của chị L để nhắc nhở việc chị L mang tiền đến trả nợ cho bị cáo với số tiền là 15.000.000 thì bị cáo mới trả lại tài sản đã lấy trộm. Hành vi chiếm giữ tài sản của người khác rồi dùng tài sản đó uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp nhằm chiếm đoạt tài sản có thể cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong trường hợp này, tài sản bị chiếm đoạt là tài sản của anh H1, việc bị cáo sử dụng tài sản của anh H1 để uy hiếp chị L là chưa đủ mạnh, tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể so với hành vi lấy trộm tài sản nêu trên, nên không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cơ quan Công an thành phố Q cần xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo về hành vi này mới bảo đảm sự công bằng và tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, việc bị cáo chủ động giao nộp số tài sản chiếm đoạt nêu trên cho bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi bị truy tố, bị cáo đã tự động ra đầu thú, do đó các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cân nhắc khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt vẫn bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Vật chứng của vụ án là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng, nên theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 cờ lê loại 8mm, có dòng chữ “USA Standard”, theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07-12-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.

[6] Về trách nhiệm dân sự, do các tài sản bị chiếm đoạt đã được cơ quan điều tra trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xét tiếp tục xem xét. Việc bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị 03 vỏ bình oxi và 01 máy cắt sắt vì cho rằng bị cáo là người làm mất các tài sản này với số tiền là 10.000.000 đồng không có chứng cứ để chứng minh là bị cáo lấy trộm nên không có đủ cơ sở để chấp nhận.

[7] Đối với người lái xe lôi mà bị cáo đã thuê để vận chuyển số tài sản chiếm đoạt từ nhà của anh H1 về nhà của bị cáo, do không xác minh được nhân thân lai lịch, không thể làm rõ được ý thức của người này khi tham gia cùng với bị cáo nên chưa đủ căn cứ để xử lý.

[8] Lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với bị cáo, về xử lý vật chứng và về trách nhiệm dân sự cơ bản là phù hợp với nhận định nêu trên.

[9] Bị cáo Nguyễn Tấn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Tấn H 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24-11-2023.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 cờ lê loại 8mm, có dòng chữ “USA Standard”, theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07-12-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Tấn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Quy Nhơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn;
  • - Bị cáo, bị hại, đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Trần Duyên Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 04/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn H phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger