Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Lợi

2. Bà Trần Thị Xuân Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 65/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 273/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Lưu Võ Ngọc Á, sinh năm 1966; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 1 T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.; Chỗ ở: 2 V, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Bán vé số dạo; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn Đ (chết) và bà Lưu Thị L (chết); hoàn cảnh gia đình: không chồng con; Tiền án: 01, ngày 25/9/2009 bị Tòa án nhân quận P xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (Bản án số 165/2009/HSST). Ngày 20/11/2012 đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 24/12/2009 Chi cục thi hành án dân sự quận Phú Nhuận đã ủy thác phần thi hành án phí và nộp phạt cho Chi cục thi hành án dân sự Quận 3. Chi cục thi hành án dân sự Quận 3 trả lời tại Công văn số 2283/CCTHADS ngày 27/9/2023 về kết quả thi hành án: bà Á chưa thực hiện nghĩa vụ thi hành án; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Thành phố H trích lục tiền án tiền sự, bị can Á bị Công an Quận 3 bắt và lập danh chỉ bản ngày 10/10/1999 về cưỡng bức lao động. Ngày 19/10/2023 Công an Q có Thông báo số 35 trả lời “không có thông tin về Lưu Võ Ngọc Á trong hệ thống sổ lưu trữ năm 1990 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, không xác định được hình thức xử lý”.

- Ngày 19/6/2013 Ủy ban nhân dân Quận C ra Quyết định số 105/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với Lưu Võ Ngọc Á về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 24/5/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 34/2019/HSST), ngày 26/5/2020 đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 23/9/2020 đóng án phí.

Ngày 12/7/2023 bị can bị bắt quả tang và tạm giam từ ngày 21 tháng 07 năm 2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận P. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lưu Thị N, sinh năm 1974 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: 2 V, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Nguyễn Thị T sinh năm 1979 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: 6 X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 8 giờ 30 phút ngày 12/7/2023, Công an P, quận P tuần tra kiểm soát an ninh trật tự địa phương. Khi đến trước nhà số A C, Phường A nhìn thấy đối tượng Lưu Võ Ngọc Á có biểu hiện nghi vấn liền kiểm tra hành chính. Qua đó công an phát hiện trong lòng bàn tay trái của Á đang cầm 08 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu (gồm 03 đoạn màu xanh, 02 đoạn màu vàng, 02 đoạn màu trắng, 01 đoạn màu hồng) bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 gói giấy bạc bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu xanh hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng.

Tại cơ quan công an, Á khai nhận 06 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng là heroine do Á mua từ một người đàn ông không rõ lai lịch tên Ý tại chỗ có che bạt phủ đoạn giữa cầu K với giá 650.000 đồng và được Ý cho thêm 03 đoạn heroin, với mục đích mang về quê sử dụng. Sau khi mua ma tuý, Á xuống chân cầu K lấy 01 đoạn heroine ra định sử dụng nhưng gió lớn không dùng được nên gói lại bằng giấy bạc và ra quán cà phê ngồi nghỉ. Á còn khai biết Ý bán ma túy do mọi người truyền tai nhau và đã mua ma túy của đối tượng Ý 03 lần. Ngoài ra, Á còn mua ma túy của người phụ nữ tên T1. Qua kiểm tra xác minh tại khu vực cầu K, Công an chưa phát hiện có đối tượng tên Ý, T1 như mô tả.

Theo bản Kết luận giám định số 7690/KL-KTHS ngày 20/7/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: Gói 01 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lưu Võ Ngọc Á, Nguyễn Thị Mỹ K (người chứng kiến), Nguyễn Trung D (Điều tra viên) và hình dấu của Công an P, quận P bên trong gồm có:

  • Bột màu trắng trong 03 đoạn ống nhựa màu xanh (ký hiệu m1): 0,2879 gam heroine.
  • Bột màu trắng trong 02 đoạn ống nhựa màu vàng (ký hiệu m2): 0,1978 gam heroine.
  • Bột màu trắng trong 02 đoạn ống nhựa màu trắng (ký hiệu m3): 0,1386 gam heroine.
  • Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa màu hồng (ký hiệu m4): 0,0904 gam heroine.
  • Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa màu xanh trong gói giấy bạc (ký hiệu m5): 0,0785 gam heroine.

Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKSPN ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Lưu Võ Ngọc Á về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và nhân thân; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lưu Võ Ngọc Á từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù; xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lưu Võ Ngọc Á thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các văn bản tố tụng có trong hồ sơ vụ án như bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, kết luận giám định... đều được tiến hành theo đúng quy định, tại các bản khai, biên bản hỏi cung và các tài liệu khác bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng có trong hồ sơ vụ án của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 12/7/2023 tại trước cửa nhà số A C, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Lưu Võ Ngọc Á bị bắt quả tang khi đang cầm trong tay 08 đoạn ống nhựa và 01 gói giấy bạc bên trong có 01 đoạn ống nhựa chứa tổng cộng 0,7932 gam heroine. Á khai mua số ma túy trên là để dành cho bản thân sử dụng.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đồng thời căn cứ vào các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm tra người; biên bản kiểm tra phương tiện; biên bản xem xét dấu vết trên thân thể; biên bản xét nghiệm ma túy; các bản tự khai, biên bản hỏi cung...và căn cứ bản Kết luận giám định số 7690/KL-KTHS ngày 20/7/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H đã có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi của bị cáo Lưu Võ Ngọc Á đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Loại ma túy và số lượng ma túy mà bị cáo Á tàng trữ tổng cộng là 0,7932 gam heroine nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3]. Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự trị an xã hội và xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và phòng chống tội phạm về ma túy của Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước Việt Nam nghiêm cấm việc sản xuất, mua bán tàng trữ, sử dụng... trái phép chất ma túy, đồng thời quy định trừng phạt nghiêm khắc những ai cố tình vi phạm bởi ma túy không những hủy diệt chính bản thân bị cáo mà còn gieo rắc cái chết trắng cho giới trẻ, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo là người có nhân thân không tốt; đã từng bị Tòa án kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không chịu sửa chữa sai lầm, tu chí làm ăn. Do vậy, cần có mức án nghiêm khắc, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm, Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo .

Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lưu Võ Ngọc Á đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo.

[4]. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

  • Đối với 01 (một) gói niêm phong ma túy còn lại sau giám định ghi vụ số 7690(1522)/23 và chữ ký ghi tên Thiếu tá Lê Thị H (Giám định viên), Đỗ Minh H1 (Điều tra viên); đây là chất cấm lưu hành thuộc độc quyền quản lý của Nhà nước nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) túi xách màu đen, bên có in dòng chữ “MONT BLANC” xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia sim số 0855127494, số imei: 352055/02/050241/3 tình trạng máy cũ là vật cá nhân, bị cáo khai và qua kiểm tra không phát hiện gì liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo.
  • Đối với 01 (một) xe máy biển số 53Y7-3414, số máy: 1P50FMG-3Y0386246, số khung: VFCPCGOA3YF006328, thu giữ của Á: Á khai mượn của Lưu Thị N – em gái Á để sử dụng. Bà N1 khai mua xe trên qua mạng xã hội, không lập hợp đồng mua bán và thủ tục sang tên. Khi mua xe bà N1 có nhận giấy đăng ký xe nhưng đã làm mất. Qua xác minh, xe máy biển số 53Y7-3414 là loại xe Mingxing do Nguyễn Thị T, địa chỉ 6 X, xã T, huyện H đứng tên đăng ký. Qua làm việc, T khai mua xe máy hiệu Mingxing biển số 53Y7-3417 vào năm 2001 tại cửa hàng xe máy ở ngã tư T, xã T, huyện H. Khoảng 15 năm sau T đã bán xe này cho người khác, chỉ viết giấy tay, không làm thủ tục sang tên nên không còn liên quan đến xe máy nên hiện chưa xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; do vậy giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo trong thời hạn nhất định, nếu không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận, thì đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước

[5]. Về án phí: Bị cáo Lưu Võ Ngọc Á phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lưu Võ Ngọc Á phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Lưu Võ Ngọc Á 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2023.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ma túy còn lại sau giám định ghi vụ số 7690(1522)/23 và chữ ký ghi tên Thiếu tá Lê Thị H (Giám định viên), Đỗ Minh H1 (Điều tra viên);
  • + Trả lại cho bị cáo: 01 (một) túi xách màu đen, bên có in dòng chữ “MONT BLANC” và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia sim số 0855127494, số imei: 352055/02/050241/3 tình trạng máy cũ.
  • + Giao Chi cục thi hành dân sự quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo với thời hạn 06 tháng đối với 01 (một) xe máy biển số 53Y7-3414, số máy: 1P50FMG-3Y0386246, số khung: VFCPCGOA3YF006328, để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận, trong thời hạn trên kể từ ngày đăng báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2023 giữa Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.PN;
  • - Công an Q.PN; Bị cáo
  • - Chi cục THADS Q.PN;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 04/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger