Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HS-ST

Ngày 09 – 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh

Ông Trần Xuân Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Hiếu Đức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 210/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 7 năm 1979 tại huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: xóm T, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Nguyễn Trung G, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1950; vợ Đỗ Thị Thu P, sinh năm 1981; có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Danh H1, sinh năm 1986; địa chỉ: K, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Anh Vũ Công L, sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9 năm 2019, Ngô Thị Quỳnh T (sinh năm 1973) trú phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh đã liên lạc, trao đổi với Nguyễn Thọ H2 (sinh năm 1988) trú tại xóm Y, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên về việc có một số công dân Việt Nam bị phía Hàn Quốc trục xuất về nước, nay muốn đi sang Hàn Quốc để lao động nhưng không làm được visa và nhờ H2 tìm mối liên hệ đưa người sang Hàn Quốc bằng đường tàu biển. Nguyễn Thọ H2 đã trao đổi nội dung trên với Nguyễn Tiến H (sinh năm 1979) trú tại xóm T, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội nhờ tìm đường đưa người đi Hàn Quốc. Nguyễn Tiến H đã liên lạc, thỏa thuận với một người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch, địa chỉ ở thị xã C, tỉnh Nghệ An) có thể tổ chức đưa người sang Hàn Quốc bằng cách trốn trên tàu biển chở hàng với chi phí là 6.000USD một người, phải đặt cọc trước 3.000USD, nếu sang Hàn Quốc thành công sẽ nộp tiếp 3.000 USD còn lại, tàu cập cảng nào thì đi từ cảng đó, nếu đi không thành công thì trả lại tiền nhưng phải trừ mỗi người 1.000 USD. Nguyễn Tiến H thông báo cho Nguyễn Thọ H2 biết, cả hai bàn bạc và thống nhất về chi phí thu của mỗi lao động là 8.000 USD/người, nộp cọc trước 4.000 USD/người, nếu sang được Hàn Quốc thì nộp tiếp 4.000 USD còn lại. Sau đó, Nguyễn Thọ H2 thông báo cho Ngô Thị Quỳnh T biết có đường dây đưa người sang Hàn Quốc bằng cách trốn trên khoang ống khói của tàu hàng, nếu tàu cập cảng nào thì đi từ cảng đó, đồng thời H2 nói cho T biết H liên hệ được đường dây có thể đưa người đi Hàn Quốc chi phí mỗi người là 8.000USD, có lịch đi phải đặt cọc trước 4.000 USD/người, khi sang đến Hàn Quốc thì nộp hết 4.000 USD còn lại. T, H2 và H thống nhất: T tìm kiếm, tư vấn và thu tiền của người có nhu cầu trốn sang Hàn Quốc lao động rồi báo lại cho H2; H2 sẽ thông báo cho H biết và trao đổi với T1 để nắm lịch tàu rồi báo lại cho H2 và T; khi gần đến ngày lên tàu, T chuyển tiền cho H2 để vào thị xã C, tỉnh Nghệ An đón, đưa người đến bàn giao và chuyển tiền cho T1 để dẫn người lên tàu trốn sang Hàn Quốc. Hiệp gửi số điện thoại của T1 cho H2 để H2 trực tiếp liên hệ khi có việc cần.

Khoảng tháng 10/2019, Nguyễn Danh H1 (sinh năm 1986) trú tại khối A, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An và Võ Công L1 (sinh năm 1981) trú tại xóm B, xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An đã từng lao động tại Hàn Quốc và bị trục xuất về nước nay muốn tiếp tục sang Hàn Quốc để lao động nhưng không làm được Visa lao động hợp pháp. Nguyễn Danh H1 được một người tên T2 (quê ở tỉnh Hải Dương, đang lao động ở Hàn Quốc là bạn của Nguyễn Danh H1) giới thiệu Ngô Trung T3 (sinh năm 1988) trú tại thôn Đ, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên có thể đưa người trốn trên tàu biển đi sang Hàn Quốc. Nguyễn Danh H1 đã liên lạc và được Ngô Trung T3 tư vấn là có thể tổ chức trốn sang Hàn Quốc theo đường tàu biển, Nguyễn Danh H1 rủ Võ Công L1 cùng đi. Trước đó, Ngô Trung T3 được Lê Anh D (sinh năm 1990) trú thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình (quen qua mạng xã hội) giới thiệu Ngô Thị Quỳnh T có thể đưa người sang Hàn Quốc bằng tàu biển; Ngô Trung T3 đã đưa Nguyễn Danh H1 và Võ Công L1 đến nhà Ngô Thị Quỳnh T để trao đổi. Quá trình trao đổi, Ngô Thị Quỳnh T nói có thể đưa H1 và L1 sang Hàn Quốc bằng cách trốn trên tàu biển, có người đón, đưa lên tàu và khi đến Hàn Quốc sẽ có người đưa vào đất liền, do tàu xuất phát từ T (Trung Quốc) nên phải

nộp hộ chiếu để xin visa du lịch sang T (Trung Quốc) rồi mới lên tàu biển đến Hàn Quốc. Nguyễn Danh H1, Võ Công L1 đồng ý và nộp hộ chiếu cho Ngô Thị Quỳnh T; Ngô Thị Quỳnh T thông báo với Ngô Trung T3 chi phí đưa người đi là 11.500 USD/người, phải nộp trước 50.000.000đ tiền cọc. Ngô Trung T3 báo lại với Nguyễn Danh H1 và Võ Công L1 chi phí đi là 13.500 USD/người phải nộp trước 50.000.000đ tiền cọc; Nguyễn Danh H1 và Võ Công L1 đã nộp cho Ngô Trung T3 mỗi người 50.000.000đ tiền cọc; Ngô Trung T3 đã chuyển cho Ngô Thị Quỳnh T 100.000.000đ tiền đặt cọc của H1 và L1 qua tài khoản ngân hàng. Ngô Thị Quỳnh T đã điện thoại cho Nguyễn Thọ H2 trao đổi có 02 người ở Nghệ An muốn đi Hàn Quốc bằng đường tàu biển để H2 sắp xếp, bố trí lịch tàu. Nguyễn Thọ H2 đã liên lạc với Nguyễn Tiến H trao đổi nội dung trên để H nắm và thông báo lịch tàu; một thời gian sau, H liên hệ với T1 hỏi lịch tàu được T1 thông báo tháng 12/2019 sẽ có tàu cập cảng Cửa Lò bốc hàng đi Hàn Quốc. Nguyễn Tiến H thông báo cho Nguyễn Thọ H2 biết lịch tàu cập cảng C, Nghệ An. Nguyễn Thọ H2 gọi điện thoại cho Ngô Thị Quỳnh T thông báo cho H1 và L1 đến cảng C để đi. T nói H2 đi vào ngày nào thì vào tỉnh Nghệ An để dẫn người đi, nhưng do Nguyễn Thọ H2 bận việc nên báo cho Ngô Thị Quỳnh T liên hệ với H để tổ chức cho người đi, đồng thời gửi cho T số điện thoại của T1 (H2 nói với T người này tên M) để gửi cho H1 và L1 để liên lạc. Ngô Thị Quỳnh T thông báo cho Nguyễn Danh H1, Võ Công L1 nộp thêm mỗi người 50.000.000đ để chuẩn bị ngày 11/12/2019 đến cảng C lên tàu đi sang Hàn Quốc, đồng thời gửi số điện thoại của T1 cho H1 và L1 để liên lạc. T thông báo cho H chiều tối ngày 11/12/2019 đến thị xã C, tỉnh Nghệ An đón người và chuẩn bị đồ cho họ lên tàu sang Hàn Quốc. Võ Công L1 và Nguyễn Danh H1 đã chuyển cho Ngô Thị Quỳnh T mỗi người 50.000.000đ. Ngày 10/12/2019, Võ Công L1 chuyển cho Lê Thị T4 (sinh năm 1987) trú xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng số tiền 210.000.000đ nhờ cầm hộ để khi Võ Công L1 báo thì chuyển cho Ngô Thị Quỳnh T. Ngày 11/12/2019 Võ Công L1 và Nguyễn Danh Hoàng liên h với T1 thì được T1 hướng dẫn mua lương khô, đồ ăn, nước uống và một số nhu yếu phẩm khác rồi hẹn địa điểm gặp nhau. Tối ngày 11/12/2019 H cũng liên hệ gặp T1 tại thị xã C rồi cả hai đón L1 và H1 đưa đến thuê một phòng ở khách sạn gần cảng C (H1 và L1 khai khách sạn R ở khối B, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An); T1 và H giúp H1 và L1 chuẩn bị lương khô, nước, các vật dụng khác, dùng băng keo dán xung quanh người rồi mặc áo bên ngoài che lại. Sau đó T1 dùng xe máy lần lượt chở Nguyễn Danh H1, Võ Công L1 vào cảng C dẫn lên tàu chở hàng WOOYANG PRINCESS, Quốc tịch P1; số hiệu: IMO 9492866 trốn trên khoang ống khói của tàu. Sau khi H1 và L1 lên tàu, T1 yêu cầu H chuyển tiền cọc của hai người, H gọi điện cho Nguyễn Thọ H2 yêu cầu Ngô Thị Quỳnh T chuyển tiền đặt cọc của H1 và L1 cho H; T yêu cầu người nhà của H1 và L1 nộp tiền, người nhà của H1 và L1 đã chuyển cho T số tiền 135.000.000đ. T gọi điện cho H báo cho nợ tiền cọc, khi H1 và L1 đến Hàn Quốc thì sẽ trả toàn bộ số tiền và chỉ chuyển số tiền 8.000.000₫ qua tài khoản Ngân hàng của H (H khai đây là tiền do T bồi dưỡng cho H để tổ chức cho hai người trốn đi Hàn Quốc); H đề nghị T1 cho nợ tiền cọc nhưng T1 không đồng ý nên H đã bỏ tiền cá nhân nộp trước cho T1

6.000USD (gồm 67.000.000đ tiền mặt và khoảng 60.000.000đ tính vào tiền hàng thực phẩm chức năng). Khoảng 01 giờ 00 ngày 12/12/2019 tàu WOOYANG PRINCESS rời cảng C đi Hàn Quốc đến ngày 19/12/2019 tàu cập cảng K (Hàn Quốc). Nguyễn Danh H1, Võ Công L1 xuống tàu tìm cách trốn ra khỏi cảng để vào đất liền thì bị cảnh sát Hàn Quốc phát hiện, bắt giữ. Đến ngày 09/01/2020 bị trục xuất về Việt Nam qua sân bay N, Hà Nội.

Nguyễn Danh H1, Võ Công L1 yêu cầu Ngô Trung T3, Ngô Thị Quỳnh T trả lại tiền. Ngô Thị Quỳnh T yêu cầu Nguyễn Thọ H2 trả lại tiền cho H1 và L1. Nguyễn Thọ H2 thông báo để Nguyễn Tiến H yêu cầu T1 trả lại tiền cọc cho T để trả lại cho H1 và L1. Nhưng H nói với H2 là T đang nợ tiền đặt cọc, H tự bỏ tiền để nộp tiền cọc cho T1; H liên lạc nhưng không gặp được T1. Sau đó, T1 đã chuyển lại cho H2 số tiền 4.000 USD; do sợ liên lụy nên H2 và H thống nhất bỏ tiền cá nhân đưa cho T vay để trả lại tiền cho H1 và L1. H đã đưa cho Ngô Thị Quỳnh T 135.000.000đ để trả cho H1 và L1. Tuy nhiên T khai Nguyễn Tiến H không đưa cho T khoản tiền này, sau khi H1 và L1 trốn lên tàu biển, T đã chuyển khoản cho H số tiền 140.000.000đ là tiền đặt cọc của H1 và L1 trốn sang Hàn Quốc. H khai số tiền 140.000.000đ T chuyển khoản cho H là tiền T trả nợ H do trước đó T nhờ H mua quần áo, mỹ phẩm. Do sao kê tài khoản không ghi rõ nội dung chuyển tiền, mặt khác T đã chết nên không tiến hành đối chất giữa T và H được, do đó không có căn cứ để kết luận đối với khoản tiền trên. Đến nay, Ngô Thị Quỳnh T mới trả lại cho Võ Công L1 50.000.000đ.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Ngô Thị Quỳnh T, Nguyễn Thị L2, Ngô Trung T3 bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N bắt giữ. Đối với Nguyễn Thọ H2 đến Cơ quan điều tra đầu thú; đối với Nguyễn Tiến H bỏ trốn đến ngày 26/7/2023 bị bắt theo Quyết định truy nã.

Việc thu giữ, xử lý vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ 01 dấu tên Giám đốc Ngô Thị Quỳnh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng có lắp sim điện thoại số 0948.909.xxx của Ngô Thị Quỳnh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone Xs Max của Nguyễn Thọ H2; 01 điện thoại di động Iphone 5, màu trắng của Ngô Trung T3. Vật chứng vụ án đã được xử lý tại bản án HSST số 190/2021/HSST ngày 09/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Quá trình điều tra gia đình Nguyễn Tiến H đã nộp số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) hưởng lợi của Nguyễn Tiến H vào tài khoản tạm giữ Sở tài chính tỉnh N số: [...] mở tại Kho bạc nhà nước N1 theo giấy nộp tiền ngày 16/11/2023.

Với các nội dung trên, Cáo trạng số 11/CT-VKS-P1 ngày 18/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tiến H về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng

khoản 1 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.

Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do giao dịch giữa bị cáo với các người liên quan là các giao dịch trái pháp luật, đề nghị không xem xét.

Về vật chứng: Vật chứng vụ án đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 190/2021/HSST ngày 09/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) hưởng lợi không có căn cứ của Nguyễn Tiến H hiện đang có trong tài khoản tạm giữ tại Sở tài chính tỉnh N số: [...] mở tại Kho bạc nhà nước N1 theo giấy nộp tiền ngày 16/11/2023.

Bị cáo Nguyễn Tiến H không có ý kiến tranh luận về tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến H khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng tháng 9 năm 2019; Ngô Thị Quỳnh T, Ngô Trung T3, Nguyễn Thọ H2 và Nguyễn Tiến H đã trao đổi, thống nhất tổ chức cho Nguyễn Danh H1, Võ Công L1 trốn đi Hàn Quốc bằng cách trốn lên tàu hàng xuất phát từ cảng C, tỉnh Nghệ An đi Hàn Quốc; Nguyễn Thọ H2 và Nguyễn Tiến H báo cho T chi phí 1 người đi là 8.000 USD/người; T báo với T3 chi phí đi là 11.500 USD/người, T3 báo cho H1 và L1 chi phí đi là 13.500USD/người để hưởng chênh lệch; sau khi thống nhất, H2 và H đã sắp xếp, bố trí thời gian, địa điểm để H1 và L1 trốn đi Hàn Quốc. Ngày 11/12/2019 H và một người tên T1 chuẩn bị tư trang cho Nguyễn Danh H1, Võ Công L1 trốn lên tàu hàng WOOYANG PRINCESS, quốc tịch

Panama xuất phát từ cảng C, tỉnh Nghệ An đến cảng K, Hàn Quốc; ngày 19/12/2019 khi đến Hàn Quốc, H1 và L1 tìm cách trốn ra khỏi cảng thì bị cơ quan chức năng Hàn Quốc phát hiện bắt giữ, đến ngày 09/01/2020 bị trục xuất về Việt Nam.

[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tiến H là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trật tự quản lý hành chính mà còn gây tác hại đến chính sách hợp tác lao động giữa nhà nước Việt Nam với các nước khác, đồng thời làm ảnh hưởng đến việc đánh giá của Chính phủ các nước đối với người lao động Việt Nam. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo trong vụ án, nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa loại tội phạm này trong giai đoạn hiện nay. Vụ án có tính chất, vai trò đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Tiến H phạm tội với vai trò giúp sức môi giới, thỏa thuận các khoản phí cùng các bị cáo khác, phạm tội đối với 02 người với vai trò thứ yếu.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; sau khi khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã cùng với Ngô Thị Quỳnh T chuyển cho những người liên quan để khắc phục một phần hậu quả; có bố đẻ (ông Nguyễn Trung G) được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì và là nạn nhân chất độc hóa học; gia đình bị cáo Nguyễn Tiến H đã nộp số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) hưởng lợi của Nguyễn Tiến H vào tài khoản tạm giữ Sở tài chính tỉnh N. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhưng cũng phải cách ly bị cáo một thời gian như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các thỏa thuận giao nhận tiền nhằm mục đích xuất cảnh giữa bị cáo với những người liên quan là trái quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, tuy tố, những người liên quan không tự nguyện thỏa thuận được với nhau, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét. Những người liên quan có thể yêu cầu bằng vụ kiện dân sự khác khi có điều kiện.

[6] Về vật chứng vụ án: Vật chứng vụ án đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 190/2021/HSST ngày 09/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với Ngô Thị Quỳnh T, Nguyễn Thọ H2 và Ngô Trung T3 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài” tại Bản án số 190/2021/HSST ngày 09/12/2021, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xét xử phúc thẩm tại Bản án số 708/2022/HSPT ngày 24/9/2022. Nguyễn Thọ H2 đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam P2, Bộ C (tại

tỉnh Thái Nguyên); Ngô Trung T3 đang chấp hành án treo tại địa phương; Ngô Thị Quỳnh T đã chết trước khi chấp hành án.

Đối với người tên T1 theo lời khai của Nguyễn Tiến H là người đưa H1 và L1 trốn lên tàu biển đi Hàn Quốc, nhưng H không biết rõ nhân thân, lý lịch, địa chỉ của T1. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không đủ căn cứ để làm rõ, xử lý trong vụ án.

Đối với Lê Thị T4 là người được Nguyễn Danh H1 và Võ Công L1 chuyển tiền vào tài khoản để nhờ T4 giữ hộ, khi có yêu cầu của H1 và L1 thì T4 chuyển cho Ngô Trung T3 và Ngô Thị Quỳnh T. Lê Thị T4 không biết mục đích chuyển tiền này để làm gì, do đó không cấu thành tội phạm.

Đối với Lê Anh D theo lời khai của Ngô Trung T3 là người giới thiệu T3 đến gặp Ngô Thị Quỳnh T để hỏi về việc đưa người đi Hàn Quốc bằng tàu biển. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, hiện Lê Anh D bị đột quỵ, tinh thần không minh mẫn, không giao tiếp được nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, do đó không đủ căn cứ xác định Lê Anh D liên quan trong vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến H phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến H 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Tiến H.

3. Về xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 190/2021/HSST ngày 09/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) hưởng lợi của bị cáo Nguyễn Tiến H đã nộp hiện đang có trong tài khoản tạm giữ tại Sở tài chính tỉnh N số: [...] mở tại Kho bạc nhà nước N1 theo giấy nộp tiền ngày 16/11/2023.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Tiến H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan THAHS Công an Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo, người có QLNVLQ;
  • - UBND xã Cổ Loa, h. Đông Anh, TP Hà Nội;
  • - Lưu HS; Toà HS..

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Phấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài

  • Số bản án: 04/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Tiến Hiệp 16 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger