Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HS-ST.

Ngày: 08/01/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Cảnh.

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Đức Nhân.

+ Bà Lê Thị Ánh Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 293/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2023/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Tấn Đ, sinh năm: 2002 tại tỉnh Trà V. Nơi đăng ký thường trú: Ấp Đất M, xã Phú H, huyện Nhơn T, tỉnh Đồng N; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn) 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Lý Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang ngày 08/10/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Tường O, sinh năm: 2003. Địa chỉ: Ấp Định Phú A, xã Long T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà V. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Tấn Đ là người nghiện ma túy. Khoảng 20 giờ ngày 08/10/2023, Đ điện thoại cho tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy. Sau đó, Đ mượn xe mô tô biển số 84H1- 489.24 của chị Nguyễn Thị Tường O rồi điều khiển đến khu vực cổng Công ty VeDan thuộc xã Phước T, huyện Long T gặp tên H mua 500.000 đồng ma tuý rồi giấu dưới bệ để chân xe mô tô. Đến khoảng 23 giờ 15 phút Đ điều khiển xe về đến trạm thu phí xã Long P, huyện Long T thì bị tổ tuần tra kiểm soát Trạm cảnh sát giao thông ngã ba Thái Lan thuộc Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Nai ra tín hiệu dừng xe kiểm tra thì phát hiện chỗ để chân xe mô tô có hộp giấy, bên trong có 01 gói nylong kích thước 03cm x 4cm chứa tinh thể màu trắng được hàn kín 02 đầu, Đ khai là ma túy nên chuyển giao Đ cùng vật chứng đến Công an xã Long P lập biên bản phạm tội quả tang, lập hồ sơ chuyển Công an huyện Long Thành xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số: 2247/KL-KTHS ngày 15/10/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,7958 gam (một phẩy bảy chín năm tám gam), loại: Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số: 03/CT-VKSLT ngày 12 tháng 12 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố Trần Tấn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Tấn Đ về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng như Cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Tấn Đ mức án từ 20 (hai mươi) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tấn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tấn Đ đã khai nhận. Vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 08/10/2023, bị cáo mua 500.000 đồng ma túy của tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực cổng Công ty VeDan thuộc xã Phước T, huyện Long T. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô về đến khu vực Trạm thu phí Quốc lộ 51 thuộc xã Long P, huyện Long T thì bị Cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe kiểm tra thì phát hiện bị cáo cất giấu 01 túi lylon chứa ma túy, loại Methamphetamine. Lời khai nhận của bị cáo trùng khớp lời khai ban đầu cùng các chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án.

    Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Tấn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  2. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
  3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
    • Về tình tiết tăng nặng: Không có.
    • Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt.

    Quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

    Đối với phần trình bày của bị cáo Trần Tấn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa.

    Đối với tên H, có hành vi bán ma túy cho Đ. Hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục xác minh, xử lý sau.

  4. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đảm bảo, phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng Hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ.
  5. Biện pháp tư pháp:

    Xử lý vật chứng:

    • - 01 điện thoại di động hiệu Sam sung màu đen của bị cáo Đ đã sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • - Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 2247/KL-KTHS ngày 15/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

    (Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ, tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/9/2023).

    Đối với xe mô tô hiệu Vision, biển số 84H1-489.24 chủ sở hữu của chị Nguyễn Thị Tường O, chị O cho bị cáo Đ mượn nhưng chị O không biết Đ sử dụng xe vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại xe cho chị O (BL: 72).

  6. Về án phí:

    Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Bị cáo Trần Tấn Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 269, Điều 298, Điều 299, Điều 326, Điều 327, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Tấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

  1. Về hình phạt:
  2. Xử phạt: Bị cáo Trần Tấn Đ 02 (hai) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt quả tang 08/10/2023.

  3. Xử lý vật chứng:
  4. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của bị cáo Đ đã sử dụng vào việc phạm tội.

    Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 2247/KL-KTHS ngày 15/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

    (Vật chứng nêu trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ, tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/9/2023).

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự;

    Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Bị cáo Trần Tấn Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKS ND T. Đồng Nai;
  • - VKS ND H. Long Thành;
  • - CQ ĐT CA H. Long Thành;
  • - Trại tạm giam, trại giam;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Tấn Cảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 04/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tran tan D Tang tru trai phep chat ma tuy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger