|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày: 04-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Hồng Hải
- Bà Trần Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số 98/2023HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 129/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Ngọc Anh T, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1993 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D đường số A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Trần Ngọc Ẩ (đã chết) và bà: Phạm Thị Đài T1, sinh năm 1972; có 01 người anh sinh năm 1990; có vợ là: Phạm Thị Anh T2, sinh năm 1992 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 09/9/2009 Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 05 năm tù giam về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 137/2009/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/3/2013, chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm và tiền sung công quỹ nhà nước; ngày 13/02/2020, Công an phường P, thành phố T xử phạt hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý là hư hỏng tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0032012/QĐ-XPHC, bị cáo chưa thi hành quyết định xử phạt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q1; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1980; nơi cư trú: B P, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
2/ Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 08/8/2023, Tổ tuần tra 363 – Công an Q1 trên đường tuần tra đến giữa cầu C, Phường A, Quận E thì phát hiện Trần Ngọc Anh T điều khiển xe mô tô biển số 59N1 – 971.94 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ trong cốp xe của T có 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu, T khai số tinh thể không màu là ma túy tổng hợp loại “đá”, T cất giữ với mục đích để sử dụng nên Tổ công tác đưa T và vật chứng về trụ sở Công an P1, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan điều tra Trần Ngọc A T khai: Bản thân T là người nghiện ma túy từ năm 2013. Khoảng 18 giờ 00 ngày 08/8/2023, khi đang ở tiệm cầm đồ trên đường H, Quận G để chuộc xe mô tô biển số 59N1- 97194 cho chị Trần Thị Ú1 thì T nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng. T điện thoại liên lạc với người bạn tên “Quậy” (không rõ nhân thân, lai lịch) qua nick Z “A W” để hỏi mua “nửa hộp 5” ma túy đá, “Quậy” đồng ý bán với giá 1.300.000 đồng và hẹn giao hàng tại ngã 3 đường C đường P, quận G. Sau đó T một mình điều khiển xe mô tô biển Honda Vision biển số 59N1-971.94 từ Quận G đến điểm hẹn. Tại đây, T đưa cho “Quậy” 1.300.000 đồng và được “Quậy” đưa 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có chứa 01 (một) gói ma túy “đá” là gói nylon chứa tinh thể không màu. T cất giữ vào trong túi quần trước bên phải và điều khiển xe mô tô biển số 59N1 – 971.94 quay về Quận G. Đi được một đoạn, T vào đổ xăng đồng thời T dùng tay phải lấy 01 (một) gói thuốc lá chứa ma túy, 01 (một) căn cước công dân của T, 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 59N1 – 971.94 mang tên Nguyễn Thị Mỹ H tất cả bỏ vào trong cốp xe và tiếp tục di chuyển về Quận G. Trên đường đi đến khoảng 20 giờ 40 cùng ngày, khi đến giữa cầu C, Phường A, Quận E thì bị Lực lượng tuần tra 363 – Công an Q1 kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Mục đích T tàng trữ gói ma túy là để sử dụng và không nhằm mục đích nào khác. Việc tàng trữ ma túy của T không có ai cùng tham gia.
Vật chứng: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 356167095139843; 01 (một) xe mô tô biển Honda hiệu Vison, biển số 59N1 – 971.94; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 59N1-971.94 mang tên Nguyễn Thị Mỹ H; 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Ngọc Anh T; 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet.
Tại Kết luận giám định số 8745/KL-KTHS ngày 16/8/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu là ma túy thể rắn, có khối lượng 2,3160g (hai phẩy ba một sáu không gam) loại Methamphetamine.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày: Xe mô tô biển số 59N1-971.94 bà H mua đã lâu nên không nhớ rõ giá bao nhiêu và đã bán cho một người không nhớ rõ lai lịch, không còn giấy tờ chứng minh do đã thất lạc, bà cũng không có yêu cầu gì đối với chiếc xe này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Ú1 trình bày bà Ú1 quen biết Trần Ngọc Anh T từ khoảng tháng 2/2022 do ở gần nhà trọ của T. Xe mô tô biển số 59N1-971.94 là của bà mua của một người không nhớ rõ lai lịch để sử dụng, hiện giấy tờ mua bán đã bị thất lạc. Ngày 11/02/2023 do không có tiền tiêu xài nên bà đem xe đi cầm tại tiệm cầm đồ trên đường H, Quận G. Ngày 8/8/2023, bà nhờ Trần Ngọc A T đến để chuộc xe và sau đó đi rửa xe, thay nhớt rồi đưa lại cho bà để đem về quê. Tuy nhiên T dùng xe trên đi mua ma túy về sử dụng. Việc T sử dụng xe để đi mua ma túy bà không biết và có yêu cầu được nhận lại xe.
Về trách nhiệm dân sự: Không có người tham gia tố tụng yêu cầu.
Tại Bản cáo trạng số 96/CT-VKS-Q5 ngày 08/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Ngọc Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Trần Ngọc Anh T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Ú1 trình bày tại phiên tòa bà cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 59N1-971.94, tuy nhiên chiếc xe này thực chất do chồng của bà mua nên bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bà được nhận lại chiếc xe nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Ngọc Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Ngọc Anh T hình phạt tù giam với mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Không có người tham gia tố tụng yêu cầu nên đề nghị không xem xét; về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu; 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet; xem xét truy tìm chủ sở hữu 01 (một) xe mô tô biển Honda hiệu Vison biển số 59N1 – 971.94 (kèm 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô), hết thời hạn không ai đến nhận thì tịch thu sung công quỹ; trả lại cho bị cáo 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Ngọc Anh T; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 356167095139843.Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đối với sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Mỹ H tại phiên tòa, xét thấy bà H đã trình bày đầy đủ lời khai. Do đó, sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Trần Ngọc Anh T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Trần Ngọc Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 08/8/2023 tại giữa chân cầu C, Phường A, Quận E, bị cáo T đã có hành vi tàng trữ 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu nhằm mục đích sử dụng. Theo Kết luận giám định số 8745/KL-KTHS ngày 16/8/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu là ma túy thể rắn, có khối lượng 2,3160g (hai phẩy ba một sáu không gam) loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Ngọc Anh T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây hại và đủ nhận thức được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội; biết việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vẫn cố ý tàng trữ chất ma túy nhằm mục để sử dụng cá nhân.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm mục đích giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
[4.1] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[4.3] Về nhân thân bị cáo:
Ngày 09/9/2009, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 05 năm tù giam về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 137/2009/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/3/2013, chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm và tiền sung công quỹ nhà nước. Căn cứ vào khoản 2 Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì bị cáo được coi là không có án tích.
Ngày 13/02/2020, bị cáo bị Công an phường P, thành phố T xử phạt hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý là hư hỏng tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0032012/QĐ-XPHC, bị cáo chưa thi hành quyết định xử phạt. Theo Khoản 1 Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 thì “Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định, quá thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa”; thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo Khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính”. Bị cáo bị xử phạt hành chính ngày 13/02/2020 nên thuộc trường hợp được coi là “chưa bị xử phạt vi phạm hành chính”.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (số mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định được gói niêm phong số 1750/23-Q5, bên ngoài có chữ ký giám định viên Bùi Công D, giám định viên Trịnh Hải T3 và cán bộ điểu tra Huỳnh Thanh Viễn P), là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 356167095139843; xét đây là công cụ bị cáo dùng để sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy, nên cần tịch thu và sung vào ngân sách theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - 01 (một) xe mô tô biển Honda hiệu Vison biển số 59N1 – 971.94 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 59N1-971.94 mang tên Nguyễn Thị Mỹ H. Xét, bị cáo khai nhận chiếc xe trên do bị cáo đi chuộc dùm cho bà Trần Thị Út . Qua điều tra xác định, xe mô tô nêu trên mang do bà Nguyễn Thị Mỹ H đứng tên sở hữu và đã bán cho 01 người không rõ lai lịch; bà Ú1 khai nhận do chồng bà mua từ một người không rõ lai lịch để sử dụng, không có giấy tờ chứng minh. Như vậy, bị cáo sử dụng chiếc xe không rõ nguồn gốc vào việc phạm tội nên cần giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe và giấy đăng ký xe nêu trên trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Ngọc Anh T là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, do đó trả lại cho bị cáo.
- - 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet; xét đây là công cụ bị cáo dùng để tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- [7] Đối với đối tượng tên Q là đối tượng bán ma túy cho Trần Ngọc Anh T, chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
- [8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề xử lý vật chứng là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định.
- [9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Anh T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 8 năm 2023.
2. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (số mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định được gói niêm phong số 1750/23-Q5. Bên ngoài có chữ ký giám định viên Bùi Công D; giám định viên Trịnh Hải T3 và cán bộ điểu tra Huỳnh Thanh Viễn P); 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet.
- - Tịch thu sung ngân hàng Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 356167095139843.
- - Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) xe mô tô biển Honda hiệu Vison biển số 59N1 – 971.94, số khung RLHJF5809EY164652, số máy JF58E-0164751 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 59N1-971.94 mang tên Nguyễn Thị Mỹ H trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Trả lại 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Ngọc Anh T cho bị cáo Trần Ngọc Anh T.
(Tình trạng giao nhận vật chứng như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/11/2023 giữa Công an Q1 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Trần Ngọc A T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Linh Sương |
8
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
