Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HS-PT

Ngày 10 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Anh Cường

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành

Ông Nguyễn Xuân Trọng

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Triệu Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Dương Quang C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 142/2023/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo kháng cáo:

Dương Quang C, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1994, tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Minh P, (đã chết) và bà Chu Thị S; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08 tháng 7 năm 2022 đến ngày 17 tháng 7 năm 2022, được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại nơi cư trú (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Chung:Bà Nguyễn Thị Minh Y và bà Nguyễn Thu H - Luật sư Công ty L1; Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, số A T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội (Bà Y1 có mặt, bà H vắng mặt).

Trong vụ án còn có các bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ân Ngọc Q là công nhân bộ phận Etching (bộ phận sản xuất), thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn V, địa chỉ: Khu Công nghiệp B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 30 tháng 6 năm 2022, Q làm ca đêm tại công ty, trong quá trình làm việc do làm không đúng quy trình nên bị anh Ôn Văn H1 và anh Nguyễn Trung P1 là công nhận bộ phận kiểm tra chất lượng của công ty G để báo cáo lãnh đạo. Khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 01 tháng 7 năm 2022, Q đến gặp anh P1 yêu cầu anh P1 xóa video nhưng P1 cho biết đã đăng lên nhóm nên không thể xóa được. Do Q mâu thuẫn với anh Nguyễn Trung P1 và Ôn Văn H1 trong khi làm việc tại Công ty, nên Ân Ngọc Q đã rủ Dương Quang C, Lưu Kim C1 đánh nhau với anh P1 và anh H1; Dương Quang C gọi điện rủ thêm Nguyễn Văn S1, S1 đồng ý và rủ, lôi kéo với H2 và B rủ đến cổng Công ty V để đánh nhau với nhóm của anh P1, anh H1.

Khoảng 08 giờ 15 phút, ngày 01 tháng 7 năm 2022, C tan ca và lấy xe máy ra cổng đứng cùng nhóm S1, H2, B và C1. Khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, khi công nhân đã tan làm về hết, Q điều khiển xe đi từ trong lán để xe ra cổng công ty thì thấy anh P1 đang ngồi trên xe mô tô chờ sẵn tại cổng công ty. Q đi ra chỗ C đứng thì S1 bảo Q gọi anh P1 sang nói chuyện, thì Q đi đến bảo anh P1 “Sang bên này nói chuyện”, anh P1 đồng ý đi theo Q. Khi anh P1 vừa đi đến S1 nói “Anh em làm chung với nhau mà lại xích mích thế nào đấy, thế bây giờ thế nào”, anh P1 đáp “Thế định thế nào”. Thấy anh P1 nói vậy thì S1 vung tay tát anh P1 rồi H2, B lao vào dùng tay chân không đấm, đá anh P1, lúc này C và C1 vẫn đứng ở đó chứng kiến toàn bộ sự việc nhóm của Q, S1, H2, B tham gia đánh anh P1. Bị đánh anh P1 bỏ chạy về phía cổng Công ty V. Cùng lúc này, Ôn Văn H1 và Diệp Khánh T (là bạn với anh P1) vừa đi đến, thấy anh P1 bị S1, H2, B đánh nên H1 chạy vị trí để xe mô tô của mình lấy 01 con dao quắm; T nhặt 01 viên gạch ven đường, anh P1 lấy chiếc thắt lưng giả da màu đen đang đeo trên người rồi anh P1, H1, T dồn đuổi ngược lại S1, B, H2. Bị P1, H1, T dùng hung khí đuổi thì S1, B, H2 bỏ chạy, nhóm P1, H1 và T đuổi được khoảng 8 -10 m thì dừng lại không đuổi theo nữa mà đi về vị trí đỗ xe. T hô to “Chúng mày thích thì ra cổng khu công nghiệp”. Huấn đáp “Được, chúng mày đợi đấy”. Sau đó nhóm của anh P1, H1, T điều khiển 02 xe mô tô đi ra hướng Cổng khu công nghiệp Bá Thiện 2 rồi đi ra đường 310 theo hướng Hồ Đại L để về xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Nghe thấy T nói vậy, Nguyễn Văn S1 nói với Sầm Văn B1 đi về phòng trọ để lấy hung khí ra để đánh nhau với nhóm của anh P1, H1 và T. Sầm Văn B1 đồng ý thì Q, C, H2, S1 đi bằng xe mô tô của Q, C đến cổng khu công nghiệp B, C1 cũng đi một mình bằng xe mô tô Biển kiểm soát 22 B2 – 863.16 của mình theo Q, C, H2, S1 đến cổng khu công nghiệp B, còn Sầm Văn B1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda winnerx, biển kiểm soát 22B2-674.53 của H2 đi về phòng trọ của S1. Khi về phòng trọ, Sầm Văn B1 gặp Trần Văn B2 thì nói với B2 về việc tham gia nhóm đánh nhau và rủ B2 đi cùng,Trần Văn B2 đồng ý. Sầm Văn B1 lấy trong phòng trọ 01 túi vải dù màu xanh, dạng hình trống bên trong đựng 02 con dao phóng lợn tự chế, 02 con dao quắm tự chế, thân dao bằng tuýp sắt, 01 tuýp sắt dài khoảng 77cm, 01 chiếc rìu tự chế bằng kim loại, 01 con dao phay chuôi gỗ, rồi đưa cho B2 ngồi ôm phía sau đi đến Cổng khu công nghiệp B. Khi Sầm Văn B1 đến nơi, B2 đặt túi hung khí xuống đất thì H2 cầm 01 dao phóng lợn và 01 dao quắm, B1 cầm 01 dao quắm và 01 chiếc rìu, số hung khí còn lại B2 ôm theo rồi Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88E1-366.15 của Q chở H2, S1 điều khiển xe mô tô Honda Winnerx màu đen, biển kiểm soát 22B2 - 674.53 của H2 chở B1; C điều khiển xe mô tô Honda wave màu đen của C chở B2 đi theo đường 310 hướng về hồ Đ để tìm anh P1, H1, T. C1 cũng một mình điều khiển xe mô tô của mình đi theo phía sau Q, H2, S1, B1, C, B2. Khi đi đến ngã tư có đèn tín hiệu giao thông, thuộc tổ dân phố M, thị trấn B, huyện B thì S1 nhìn thấy anh P1, H1, T, đang đi phía trước nên S1 tăng ga vượt lên chặn đầu xe của anh P1, H1. Thấy vậy anh H1 lách xe bỏ chạy, còn anh P1 nhảy xuống khỏi xe chạy bộ vào đường hướng đi xã T, huyện B. Lúc này Q chở H2; S1 chở B1 đuổi theo anh P1 nên anh P1 bỏ chạy xuống ruộng lúa bên đường. Ân Ngọc Q, Nguyễn Văn S1 dừng xe lại; C, Bằng, và Lưu Kim C1 cũng đi đến nơi. Q, S1, B2, C, C1 đứng bên vệ đường còn H2 và B1 xuống xe rồi Hầu Văn H3 cầm theo 01 dao quắm và 01 dao phóng lợn, Sầm Văn B1 cầm 01 con dao quắm dồn đuổi theo anh P1. Anh P1 chạy được khoảng 50 mét thì H3 và B1 đuổi kịp, H3 tay phải cầm dao quắm vụt phần sống dao và bản dao khoảng 3-4 phát vào lưng, chân, đùi bên trái của anh P1 khiến anh P1 bị ngã ngồi xuống ruộng. Sầm Văn B1 chạy đến đứng phía bên trái cách anh P1 khoảng 70cm tay phải cầm dao quắm chém chéo 01 phát về phía người anh P1, anh P1 giơ tay phải ra đỡ thì bị trúng vào phần cánh tay phải gây đứt cơ, tổn thương thần kinh quay, gãy xương cánh tay phải. Thấy anh P1 đã bị thương nên B1 dừng lại không chém nữa rồi cùng H3 đi về phía Q, S1, C, B2 và C1 đang đứng đợi ở vệ đường. Sầm Văn B1 nhặt hung khí cất vào túi và đưa cho Trần Văn B2 ôm túi hung khí rồi cả nhóm đi về phòng trọ của S1, Q và C1 điều khiển xe về nhà. Thấy nhóm của Q đã bỏ đi, anh P1 đi lên vệ đường rồi được H1, T đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H4, từ ngày 01 tháng 7 năm 2022 đến ngày 06 tháng 7 năm 2022 thì chuyển về điều trị tại Bệnh viện Q2 ở thành phố P, tỉnh Thái Nguyên từ ngày 07 tháng 7 năm 2022 đến ngày 14 tháng 7 năm 2022, sau đó xuất viện nghỉ điều trị tại nhà. Thấy anh P1 bị chém gây thương tích nên Diệp Khánh T đã có đơn trình báo Cơ quan Công an.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành xác minh làm rõ. Biết Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tiến hành điều tra, xác minh nên ngày 08 tháng 7 năm 2022 Nguyễn Văn S1, Hầu Văn H3, Trần Văn B2, Dương Quang C, Ân Ngọc QSầm Văn B1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đầu thú, khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Nguyễn Trung P1 theo quy định. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 250/TgT ngày 15 tháng 7 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định xếp 17% (Mười bảy phần trăm).Tại bản kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 374/TgT ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định xếp 18% (Mười tám phần trăm).

Về vật chứng trong vụ án:

- Tịch thu bản phát mại, sung quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di động Tịch thu, bản phát mại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng của Dương Quang C; 01 xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 22 B2 – 863.16 của Lưu Kim C1 để sung công quỹ nhà nước

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi vải dù màu xanh, dạng hình trống; 02 con dao phóng lợn tự chế; 02 con dao quắm tự chế; 01 tuýp sắt; 01 chiếc rìu; 01 con dao phay chuôi gỗ.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm bị hại Nguyễn Trung P1 và bà Lưu Thị N yêu cầu các bị cáo Sầm Văn B3, Dương Quang C, Ân Ngọc Q, Trần Văn B2, Nguyễn Văn S1Hầu Văn H3 mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh P1 số tiền 20.000.000đồng gồm: bồi thường tổn hại về sức khỏe, chi phí thăm khám, điều trị, chi phí đi lại, tiền mất thu nhập của P1 và bà Lưu Thị N trong thời gian điều trị thương tích, yêu cầu bị cáo Lưu Kim C1 bồi thường cho anh P1, bà N số tiền 5.000.000 đồng. Các bị cáo Ân Ngọc Q, Nguyễn Văn S1, Hầu Văn H3, Sầm Văn B1, Dương Quang C, Trần Văn B2Lưu Kim C1 đã bồi thường xong số tiền trên cho bị hại và được ghi nhận tại Bản án sơ thẩm.

Ngày 04/10/2023 bị cáo Dương Quang C đã bồi thường thêm cho bị hại Nguyễn Trung P1 số tiền 2.000.000đ.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 142/2023/HS-ST ngày 25/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Dương Quang C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Quang C 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 7 năm 2022 đến 17 tháng 7 năm 2022.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo đối với các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/8/2023, bị cáo Dương Quang C kháng cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa đã phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo của Dương Quang C, sửa bản án sơ thẩm số 142/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo 06 tháng tù và cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật. Ngoài ra xem xét tổng thể vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho các bị cáo: Giảm cho bị cáo Q, S1, H3 mỗi bị cáo 09 tháng tù; giảm cho bị cáo B2 06 tháng tù; giảm cho bị cáo B1 03 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo Q1 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa, cho bị cáo hưởng án treo do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, lời khai của các bị cáo khác trong vụ án tại giai đoạn điều tra và phiên tòa sơ thẩm, có đủ căn cứ để kết luận: Do mâu thuẫn cá nhân với anh Nguyễn Trung P1Ôn Văn H1 trong khi làm việc tại Công ty, nên Ân Ngọc Q đã rủ Dương Quang C, Lưu Kim C1 đánh nhau với anh P1 và anh H1. Dương Quang C gọi điện rủ thêm Nguyễn Văn S1, S1 đồng ý và rủ H3B1 đến cổng Công ty Vina NewFlex để đánh nhau với nhóm của anh P1, anh H1. Khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, trước Cổng Công ty TNHH V khi công nhân đã tan làm về hết, nhóm của Ân Ngọc QNguyễn Văn S1, Hầu Văn H3, Sầm Văn B1 đã dùng chân tay đấm đá anh P1, lúc này C, C1 không tham gia đánh anh P1, xong cùng đến và chứng kiến toàn bộ sự việc và nếu bị nhóm của anh P1 đánh lại thì sẵn sàng tham gia đánh lại. Bị đánh anh P1 bỏ chạy về phía cổng Công ty V. Cùng lúc đó, Ôn Văn H1Diệp Khánh T đi đến thấy anh P1 bị đánh nên đã chống trả lại và dồn đuổi ngược lại S1, B1, H3. Khi bị dồn đuổi lại thì S1, B1, H3 bỏ chạy, nhóm P1, H1T đuổi được khoảng 8 -10 m thì dừng lại không đuổi theo nữa và hai nhóm tiếp tục hẹn đến cổng Khu Công nghiệp để đánh nhau tiếp. Nhóm của anh P1, H1, T điều khiển 02 xe mô tô đi ra hướng Cổng khu công nghiệp Bá Thiện 2 rồi đi ra đường 310 để về nhà tại tỉnh Thái Nguyên. Nghe thấy T hẹn đánh nhau tiếp, S1 chỉ đạo với Sầm Văn B1 đi về phòng trọ lấy hung khí ra để đánh nhau. Khi về phòng trọ, Sầm Văn B1 gặp Trần Văn B2 và rủ B2 đi đánh nhau cùng. Sầm Văn B1 lấy trong phòng trọ toàn bộ hung khí, rồi đưa cho B2 ngồi ôm phía sau, đi đến C khu công nghiệp B, Bằng đặt túi hung khí xuống đất trước mặt Q, S1, H3, C, C1 thì H3 cầm 01 dao phóng lợn và 01 dao quắm, B1 cầm 01 dao quắm và 01 chiếc rìu, số hung khí còn lại B2 ôm theo rồi Q điều khiển xe mô tô chở H3, S1 điều khiển xe mô tô chở B1, C điều khiển xe mô tô chở B2, C1 đi xe một mình, đi theo đường 310 hướng về hồ Đ để tìm anh P1, H1, T. Khi đến địa phận thuộc tổ dân phố M, thị trấn B, huyện B thì nhóm của Q đuổi kịp nhóm anh P1 thì Nguyễn Văn S1 tăng ga vượt lên chặn đầu xe của anh P1, H1. H1 đã lách xe bỏ chạy, còn anh P1 nhảy xuống khỏi xe chạy bộ vào đường hướng đi xã T, huyện B. Lúc này Q chở H3, S1 chở theo B1 đuổi theo anh P1 thì anh P1 liền bỏ chạy xuống ruộng lúa bên đường. Q, S1, C, B2, C1 dừng xe lại và đứng bên vệ đường, còn H3B1 xuống xe, H3 cầm theo 01 dao quắm và 01 dao phóng lợn, B1, H3 dồn đuổi theo anh P1. H3 cầm dao quắm bằng tay phải vụt phần sống dao và bản dao khoảng 3-4 phát vào lưng, chân, đùi bên trái của anh P1, B1 chạy đến cầm dao quắm chém chéo 01 phát về phía người anh P1, anh P1 giơ tay phải ra đỡ thì bị trúng vào phần cánh tay phải gây đứt cơ, tổn thương thần kinh quay, gãy xương cánh tay phải, tổng tỷ lệ tổn hại thương tích là 18% sức khỏe.

[3] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Dương Quang C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chỉ vì mâu thuẫn cá nhân giữa Ân Ngọc Q, Nguyễn Trung P1Ôn Văn H1. Dương Quang C đã đồng ý cùng nhóm Ân Ngọc Q đánh nhau với nhóm của anh P1, các bị cáo đã củng cố lực lượng, chuẩn bị, đem theo hung khí nguy hiểm là dao, tuýp sắt, rìu. Hành vi đánh, đấm đá, chém của các bị cáo làm cho anh Nguyễn Trung P1 bị tổn hại 18% sức khỏe là hành vi có tính chất côn đồ và các bị cáo đã dùng các vật dụng là hung khí nguy hiểm. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây tổn hại cho sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, gây lo lắng và bất bình trong quần chúng nhân dân. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù là có căn cứ. Mặc dù bị cáo Dương Quang C là người gọi, rủ Nguyễn Văn S1 tham gia cùng nhóm của Q nhưng bị cáo không phải là người khởi xướng, cầm đầu, không chuẩn bị hung khí, không trực tiếp đấm đá, gây thương tích cho anh P1. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Dương Quang C đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Chung đã tự nguyện bồi thường cho bị hại thêm 2.000.000 đồng so với số tiền bị hại yêu cầu, người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ủy ban nhân xã T huyện B đã xác nhận bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và có ông nội là Dương Đình T1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt và cho bị cáo C hưởng án treo như đề xuất của Viện kiểm sát, để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội; giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục.

Trong vụ án này còn có các bị cáo Ân Ngọc Q, Sầm Văn B1, Hầu Văn H3, Nguyễn Văn S1, Trần Văn B2 sau khi xét xử sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị. Tuy nhiên, xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng cấp sơ thẩm xử phạt Q 03 năm 06 tháng tù, S1 03 năm 03 tháng tù, H3 03 năm 03 tháng tù, B1 02 năm tù, B2 02 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc vì thương tích các bị cáo gây ra cho bị hại không lớn (18%), sức khỏe bị hại đã ổn định và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Xét tính chất và mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo, thấy rằng cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo với mức hình phạt như trên là nghiêm khắc. Áp dụng chính sách khoan hồng pháp luật của Nhà nước. Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên đề nghị giảm một phần hình phạt cho các bị cáo: Giảm cho bị cáo Q, S1, H3 mỗi bị cáo 09 tháng tù; giảm cho bị cáo B2 06 tháng tù; giảm cho bị cáo B1 03 tháng tù. Hội đồng xét xử nhận thấy, trong vụ án này Q là đầu vụ, khởi xướng, rủ các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội. S1 là người tham gia tích cực và rủ B1 là người chưa thành niên tham gia. H3 là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại và là người có nhân thân xấu. Hội đồng xét xử xem xét giảm cho Q, S1, H3, B2 mỗi bị cáo 06 tháng tù; giảm cho bị cáo B1 03 tháng tù là phù hợp.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Dương Quang C được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1, khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Quang C, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Quang C 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 04 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Dương Quang C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo không kháng cáo:

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Ân Ngọc Q 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08 tháng 7 năm 2022.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn S1 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08 tháng 7 năm 2022.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hầu Văn H3 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08 tháng 7 năm 2022.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Sầm Văn B1 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Văn B2 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08 tháng 7 năm 2022.

Về án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;

- TAND huyện Bình Xuyên;

- VKSND huyện Bình Xuyên;

- Công an huyện Bình Xuyên;

- Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;

- Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo;

- Lưu hồ sơ, Phòng HCTP, Toà hình sự.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Đỗ Anh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 04/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Dương Quang C cùng đồng phạm phạm tối cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger