Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/DS-ST

Ngày: 08/5/2024

V/v “Tranh chấp thừa kế tài sản”

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Đỗ Thị Thắm

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng Vân
  2. Ông Nguyễn Đình Phùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Duy Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2021/TLST-DS ngày 26 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Đình D, sinh năm 1962 (có mặt); cư trú tại: F đường Q, khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Ông Phạm Khắc L, sinh năm 1959 (có mặt); cư trú tại: Số F đường Q, khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm B; cư trú tại: Số A đường Y, G, C – USA (vắng mặt).
  2. Bà Phạm Thị Hồng X (vắng mặt); cư trú tại: Khu V, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
  3. Bà Phạm Thị Hồng V (vắng mặt); cư trú tại: Số B đường N, khu V, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Người đại diện hợp pháp của bà X, bà V là Ông Phạm Khắc L (có mặt); cư trú tại: Số F đường Q, khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

  1. Ông Trần N, sinh năm 1946 (có mặt); cư trú tại: Số G đường L, tổ D, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
  2. Bà Trần Thị T (vắng mặt); cư trú tại: P, P, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Người đại diện hợp pháp của bà T là ông Nguyễn L1, sinh năm 1963 (có mặt); địa chỉ: Hẻm B L, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

  1. Bà Lê Thị P (vắng mặt); cư trú tại: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
  2. Bà Lê Thị Bạch H (vắng mặt), cư trú tại: Khu phố P, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị P và bà Lê Thị Bạch H: Ông Lê Đình D (có mặt); cư trú tại: F đường Q, khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

  1. Bà Lê Thị Ánh H1 (vắng mặt); cư trú tại: C. Babados Drive Ponte V1 Florida 32081-USA.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lê Đình D trình bày:

Ông ngoại T (chết trước năm 1945), bà ngoại Lê Thị T1 (chết năm 1972). Ông bà ngoại có 07 người con chung:

  1. Tăng Thị L2 (chết năm 2005), có chồng Phạm S (chết năm 1988) có 06 người con: Ông Phạm B, bà Phạm Thị Hồng X, bà Phạm Thị Hồng V, ông Phạm Khắc L và 02 người còn lại ông chỉ nghe chứ không biết họ tên và địa chỉ.
  2. Tăng Thị M (chết trước năm 1945), ông không biết họ tên chồng bà M, nhưng chồng bà M cũng chết, vợ chồng bà M có bao nhiêu người con ông không biết, ông chỉ biết hiện có hai người còn sống là bà Trần Thị T và ông Trần N.
  3. Tăng Thị T2 (chết năm 2011), chồng Lê Đ (chết năm 1988), có 07 người con: Bà Lê Thị P, bà Lê Thị Ánh H1, ông Lê Đình T3 vượt biên năm 1988, đã chết không có vợ con, bà Lê Thị Bạch H, ông Lê Đình D và hai người còn lại chết lúc nhỏ chưa có gia đình.
  4. Các người con còn lại chết lúc nhỏ chưa có gia đình.

Ngoài ra cụ L3, cụ T1 không có con nuôi, con riêng nào khác.

Nguồn gốc thửa đất số 112, tờ bản đồ số 72, diện tích 162,7m² tọa lạc tại đường Q, khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định là của cụ L3, cụ T1 để lại, không có giấy tờ gì. Sau khi cụ Tân mất (năm 1972) gia đình bà Tăng Thị L2 quản lý, sử dụng thửa đất trên. Khi bà Tăng Thị L2 mất gia đình ông Phạm Khắc L tiếp tục quản lý, sử dụng làm nơi thờ cúng ông bà. Từ khi quản lý, sử dụng mẹ ông L (Tặng Thị L4) và ông L có sửa chữa, tu bổ ngôi nhà.

Thửa đất này từ trước đến nay không có ai kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay ông D khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản của cụ L3 và cụ T1 chết để lại là thửa đất số số 112, tờ bản đồ số 72, diện tích 162,7m² tọa lạc tại đường Q, khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định cho các đồng thừa kế. Ông yêu cầu được nhận giá trị.

Bị đơn ông Phạm Khắc L trình bày:

Ông ngoại Tăng Lai và bà Ngoại Lê Thị T4 chết thời gian nào và có bao nhiêu người con ông không biết. Mẹ ông Tăng Thị L2 (chết năm 2003), cha ông Phạm S (chết năm 1989). Cha mẹ ông có 06 người con, 04 người như ông L khai và có 02 người là:

Phạm Khắc Đ1 (L), lúc chết chưa có vợ con.

Phạm Khắc T5, vượt biên khoảng năm 1983, hiện nay đã chết (không có vợ con).

Ngoài ra, cụ T4 còn có người con Tăng Thị N1 (chị cả), chết năm nào ông không biết, hiện tại có 02 người con là ông Lê Đình H2 và bà Lê Thị Minh T6, địa chỉ cụ thể ông không biết. Bà nuôi có chồng tên gì, chết hay sống ông không biết.

Nguồn gốc thửa đất số 112, tờ bản đồ số 72, diện tích 162,7m² tọa lạc tại đường Q, khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định là của ông bà ngoại ông là cụ Tăng L5 và cụ Lê Thị T4 để lại nhưng không có giấy tờ.

Năm 1972 do chiến tranh tàn phá mẹ ông là bà Tăng Thị L2 xây dựng lại ngôi nhà tranh vách đất để thờ cúng ông bà, đến 1984 bà L2 xây dựng, sửa chữa lại để làm nơi thờ cúng ông bà, ngôi nhà hiện trạng như hiện nay. Hiện nay, gia đình ông quản lý, sử dụng làm nơi thờ cúng ông bà. Năm 2000 bà L2 kê khai nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông D. Tuy nhiên, nếu Tòa chia di sản thì ông yêu cầu nhận hiện vật và thanh toán lại giá trị cho các đồng thừa kế. Ông đề nghị tính công sức đóng góp, tôn tạo di sản của mẹ ông và ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần N trình bày:

Ông thống nhất hàng thừa kế như ông D trình bày.

Mẹ ông Tăng Thị M (chết trước năm 1945), cha ông tên Trần C (chết năm 1973), có 05 người con, gồm: Trần Lưu (chết trước năm 1975, chưa có gia đình), bà Trần Thị T, ông Trần N, ông Trần H3 (hy sinh năm 1965), ông Trần G (chết trước năm 1975), người con thứ 6 chết lúc nhỏ.

Về nguồn gốc nhà, đất hiện nay đang tranh chấp như ông L trình bày là đúng, vì mẹ ông L là bà Tăng Thị L2 là chị cả nên sử dụng nhà từ đường để làm nơi thờ cúng ông bà. Từ khi quản lý, sử dụng mẹ ông L và ông L có sửa chữa, tôn tạo di sản như ông L trình bày.

Ông đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ L5 và cụ T4 để lại, ông yêu cầu được nhận giá trị tài sản.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T là ông Nguyễn L1 trình bày:

Ông thống nhất như lời trình bày của ông Lê Đình D và ông Trần N. Ông đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà T xin nhận giá trị đối với kỷ phần thừa kế mà bà được hưởng.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bạch H, bà Lê Thị P là ông Lê Đình D trình bày:

Thống nhất như lời trình bày của nguyên đơn, xin được nhận giá trị đối với kỷ phần mà các bà được hưởng.

Đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Hồng X, bà Phạm Thị Hồng V là ông Phạm Khắc L trình bày:

Thống nhất như lời trình bày của bị đơn. Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nếu tòa đồng ý chia di sản thừa kế thì hai bà xin nhận hiện vật đối với kỷ phần được hưởng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về sự vắng mặt của các bên đương sự: Người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ánh H1 hiện ở H kỳ và Tòa án đã tiến hành làm thủ tục ủy thác tư pháp nhưng không có kết quả. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H1.

[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Tăng L5 chết trước năm 1945, cụ Lê Thị T4 chết năm 1972. Ngày 02/06/2021 và ngày 18/6/2021 nguyên đơn ông Lê Đình D có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ L5 và cụ T4; căn cứ Điều khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 và phần I Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao thì tính đến ngày ông Lê Đình D có đơn yêu cầu chia di sản thừa kế vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu chia thừa kế của ông Lê Đình D, thấy rằng:

[2.1] Di sản của hai cụ Cụ Tăng L6 và cụ Lê Thị T4 (ông bà ngoại ông D và ông L) để lại là thửa đất số 112, tờ bản đồ số 72, diện tích 162,7m² ( theo đo đạc thực tế là 137,3 m² tọa lạc tại khu phố C, phường T, thị xã H, Bình Định (gọi tắt là thửa đất số 112) và 01 ngôi nhà trên đất. Hiện nay, thửa đất này chưa được Ủy ban nhân dân thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2.2] Các bên đương sự khai thống nhất cụ L6, cụ T4 chết không để lại di chúc. Cụ L6 và cụ T4 có 07 người con nhưng bốn người con chết lúc nhỏ, chưa có gia đình riêng, còn lại 03 người con là: Bà Tăng Thị L2, bà Tăng Thị M và bà Tăng Thị T2 nhưng hiện nay đều đã chết. Như vậy hàng thừa kế thứ nhất của cụ L6 và cụ T4 không còn ai. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hàng thừa kế thứ hai của cụ L6, cụ T4 được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật gồm: Các con của bà Tăng Thị L2 gồm: Ông Phạm B, bà Phạm Thị Xuân H4, bà Phạm Thị Hồng V, ông Phạm Khắc L. Các con của bà Tăng Thị M gồm: Bà Trần Thị T và ông Trần N. Các con của bà Tăng Thị T2 gồm: Bà Lê Thị P, bà Lê Thị Bạch H, ông Lê Đình DLê Thị Ánh H1. Những người con còn lại chết lúc nhỏ chưa có gia đình.

[2.3] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản ngày 17/06/2022 xác định giá trị thửa đất số 112 có diện tích 137,3m² theo giá thị trường là 17.000.000đồng/1m²; vậy 137,3m² X 17.000.000 đồng/1m² = 2.334.100.000 đồng. Ngôi nhà trên đất có diện tích là 28,4m², đơn giá 2.086.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại 20%, thành tiền là 417.200 đồng. Các cây lâu niên có trên đất có tổng giá trị là 4.587.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 2.339.104.200 đồng. Nhưng tại phiên tòa hôm nay, các bên đương sự thống nhất chỉ yêu cầu chia thừa kế giá trị quyền sử dụng đất, giá trị ngôi nhà và cây lâu niên có trên đất đồng ý để cho ông L trọn quyền sử dụng. Đây là sự tự nguyên thỏa thuận của đương sự và không trái quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy, giá trị tài sản chia thừa kế là 2.334.100.000 đồng.

[2.4] Về công giữ gìn, tôn tạo di sản: Sau khi cụ L6 và cụ T4 chết thì ông L ở cùng với mẹ ông là bà Tăng Thị L2 trong ngôi nhà nói trên từ năm 1972 cho đến nay, nên theo quy định tại Điều 618 Bộ luật dân sự năm 2015 và Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì ông L có công giữ gìn tôn tạo di sản nên được hưởng một suất thừa kế theo theo luật đối với giá trị tài sản là 583.525.000 đồng (2.334.100.000 đồng : 4)

[2.5] Như vậy, di sản của cụ L6, cụ T4 để lại hiện nay ông L quản lý, sử dụng có giá trị là 1.750.575.000 đồng (2.334.100.000 đồng - 583.525.000 đồng đồng).

Phân chia di sản theo trị giá thì kỷ phần thừa kế của hàng thừa kế thứ nhất gồm: Bà Tăng Thị L2, bà tăng Thị Mùi và bà Tăng Thị T2 mỗi người được nhận là 583.525.000 đồng (1.750.575.000 đồng : 3 ). Nhưng bà L2, bà M, bà T2 đều chết nên các con của bà L2, bà M, bà T2 là người thừa kế thế vị.

Tăng Thị L2 gồm 04 người con: Ông Phạm B, bà Phạm Thị Xuân H4, bà Phạm Thị Hồng V, ông Phạm Khắc L. Như vậy, kỷ phần thừa kế ông B, bà H4, bà V, ông L mỗi người sẽ được hưởng là 145.194.012 đồng (583.525.000 đồng : 4).

Tăng Thị M gồm 02 người con: Bà Trần Thị T và ông Trần N. Như vậy, kỷ phần thừa kế bà T và ông N mỗi người sẽ được hưởng là 291.762.500 đồng (583.525.000 đồng : 2).

Tăng Thị T2 gồm 04 người con: Bà Lê Thị P, bà Lê Thị Bạch H, ông Lê Đình DLê Thị Ánh H1. Như vậy, kỷ phần thừa kế bà P, bà H, bà H1 và ông D mỗi người sẽ được hưởng là 145.881.250đồng (583.525.000 đồng : 4).

[2.6] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chỉ có ông L xin nhật nhà đất, còn lại ông D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều xin nhận giá trị kỷ phần thừa kế. Kỷ phần thừa kế của ông Phạm B thì ông B tự nguyện giao lại cho ông Phạm Khắc L sử dụng. Riêng bà Lê Thị Ánh H1 hiện nay ở Mỹ và Tòa án đã ủy thác tư pháp nhưng không tìm được địa chỉ nên kỷ phần thừa kế của bà H1 tạm giao cho ông Lê Đình D quản lý.

[2.7] Xét yêu cầu nhận hiện vật của ông L, thấy rằng: Hiện nay ông L đang quản lý, sử dụng nhà thửa đất nói trên. Hơn nữa, các đồng thừa kế còn lại đều xin được nhận giá trị đối với kỷ phần thừa kế. Do đó, chấp nhận yêu cầu nhận hiện vật của ông L là giao nhà và đất cùng các cây lâu niên có trên đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 72, diện tích theo đo đạc thực tế là 137,3m² tọa lạc tại khu phố C, phường T, thị xã H, Bình Định cho ông Phạm Khắc L trọn quyền sở hữu, sử dụng. Ông L có nghĩa vụ thanh toán giá trị các kỷ phần thừa kế cho những người sau:

Phạm Thị Xuân H4 và bà Phạm Thị Hồng V mỗi người được nhận số tiền là 145.194.012 đồng;

Trần Thị T và ông Trần N mỗi người được nhận là số tiền 291.762.500 đồng;

Lê Thị P, bà Lê Thị Bạch H, ông Lê Đình D và bà Lê Thị Ánh H1 mỗi người được nhận số tiền là 145.194.012 đồng. Riêng 145.194.012 đồng của bà Lê Thị Ánh H1 tạm giao cho ông Lê Đình D nhận.

[3] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 10.000.000đồng. Bà Phạm Thị Xuân H4, bà Phạm Thị Hồng V, ông Phạm Khắc L, bà Trần Thị T, ông Trần N, bà Lê Thị P, bà Lê Thị Bạch H, ông Lê Đình D mỗi người phải chịu 1.250.000đồng, ông D đã nộp nên bà H4, bà V, ông L, bà T, ông N, bà P, bà H mỗi người phải trả lại cho ông D 1.250.000đồng.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì ông Lê Đình D, ông Phạm Khắc L, ông Trần N, bà Bà Phạm Thị Xuân H4, bà Phạm Thị Hồng V, bà Trần Thị T, bà Lê Thị P, bà Lê Thị Bạch H, được miễn.

[5] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ L6, cụ T4 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 157, 158,165,166 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 618, khoản 1 Điều 623, 649, 650, 651, 652, 658, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật của ông Lê Đình D đối với di sản của cụ Tăng L6 và cụ Lê Thị T4.
  2. Xác định thửa đất số 112, tờ bản đồ số 72, diện tích theo đo đạc thực tế là 137,3m² tọa lạc tại khu phố C, phường T, thị xã H, Bình Định là di sản thừa kế của cụ Tăng L6 và cụ Lê Thị T4. Tổng giá trị di sản thừa kế là 2.334.100.000 đồng (hai tỷ ba trăm ba mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng).
  3. Ông Phạm Khắc L được trọn quyền sử dụng thửa đất số 112, tờ bản đồ số 72, diện tích theo đo đạc thực tế là 137,3m² tọa lạc tại khu phố C, phường T, thị xã H, Bình Định và trọn quyền sở hữu ngôi nhà cùng các cây lâu niên hiện có trên đất.
  4. Buộc ông Phạm Khắc L có nghĩa vụ thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho những người sau:
    1. Phạm Thị Xuân H4 và bà Phạm Thị Hồng V mỗi người được nhận số tiền là 145.194.012 đồng ( một trăm bốn mươi lăm triệu một trăm chín mươi bốn nghìn không trăm mươi hai đồng);
    2. Trần Thị T và ông Trần N mỗi người được nhận là số tiền 291.762.500 đồng (hai trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng);
    3. Lê Thị P, bà Lê Thị Bạch H, ông Lê Đình D và bà Lê Thị Ánh H1 mỗi người được nhận số tiền là 145.194.012 đồng ( một trăm bốn mươi lăm triệu một trăm chín mươi bốn nghìn không trăm mươi hai đồng). Riêng 145.194.012 đồng của bà Lê Thị Ánh H1 tạm giao cho ông Lê Đình D nhận.
  5. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 10.000.000đồng. Bà Phạm Thị Xuân H4, bà Phạm Thị Hồng V, ông Phạm Khắc L, bà Trần Thị T, ông Trần N, bà Lê Thị P, bà Lê Thị Bạch H, ông Lê Đình D mỗi người phải chịu 1.250.000đồng, Ông Lê Đình D đã nộp nên bà Phạm Thị Xuân H4, bà Phạm Thị Hồng V, ông Phạm Khắc L, bà Trần Thị T, ông Trần N, bà Lê Thị P, bà Lê Thị

Bạch H mỗi người phải trả lại cho ông Lê Đình D 1.250.000đồng ( một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

    1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lê Đình D, ông Phạm Khắc L, ông Trần N, bà Bà Phạm Thị Xuân H4, bà Phạm Thị Hồng V, bà Trần Thị T, bà Lê Thị P, bà Lê Thị Bạch H, được miễn án phí.

  1. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án:
    1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả khác khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
    2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án hoặc nhận được bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Bình Định;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 04/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger