|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/DS-PT Ngày 22 tháng 11 năm 2024 V/v “Tranh chấp kiện đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình.
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Quang Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2024/TLPT-DS ngày 07/10/2024 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS - ST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13/2024/QĐPT-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn T, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Sĩ K, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn B, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn A, sinh năm 1963; Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (đều có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Văn O, sinh năm 1991 (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 (vắng mặt).
- Bà Đặng Thị D, sinh năm 1925 (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của anh O, chị H, bà D: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1970 (có mặt); Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Phạm Thị C, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của chị C: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966 (có mặt);
- Ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1962 (vắng mặt).
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu phố C, C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Ngô Tuấn A1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu phố N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Ông Phạm Văn T, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Do có kháng cáo của ông Phạm Văn A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà L là chủ sử dụng thửa đất số 155, tờ bản đồ 18, diện tích 211,2 m² (thửa đất số 155) tại thôn C, xã T, huyện T mang tên bà Nguyễn Thị L, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/4/2022. Nguồn gốc thửa đất là do bà mua lại của anh Nguyễn Anh T1 và chị Trần Thị P. Khi mua hai bên có làm hợp đồng công chứng ngày 08/3/2022 tại Văn phòng C1. Trước kia là thửa đất số 89, tờ bản đồ 04, diện tích 208 m² (thửa đất số 89), bà L mua với giá ghi trên hợp đồng là 400.000.000 đồng chẵn, giá thực tế là 1.850.000.000 đồng mục đích để giảm tiền thuế. Ngoài hợp đồng công chứng hai bên còn có giấy viết tay thể hiện việc mua bán thửa đất số 155, tài sản trên đất, giá tiền thực tế.
Khi mua đất và nhà, bà có được vợ chồng anh T1 chị P cho vào nhà và đất để xem trước khi mua bán, anh chị có nói là hiện nay cho ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N, là chủ cũ ở nhờ. Sau khi mua bán xong thì ông bà sẽ chuyển đi. Tuy nhiên sau khi mua bán xong do bà chưa có nhu cầu ở nên vẫn để cho ông bà ở nhờ. Hiện nay bà có nhu cầu sử dụng và có nói với ông Phạm Văn A, bà N chuyển đi nhưng ông bà không chuyển trả lại nhà đất cho bà.
Nay bà L yêu cầu Toà án giải quyết vụ án kiện đòi tài sản buộc ông Văn A, bà N phải ra khỏi đất, nhà và trả lại cho bà thửa đất và nhà nêu trên.
Tại phiên toà sơ thẩm, mong muốn hai bên hoà giải, bà L mua với giá 1.850.000.000 đồng, nay thời gian đã lâu, mua bán phải có lãi, nếu bị đơn mong muốn lấy lại tài sản bà L yêu cầu bị đơn phải trả 2.300.000.000 đồng thì hai bên hoà giải, bị đơn không đồng ý đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra bà L không có ý kiến yêu cầu gì khác, anh K không trình bày gì thêm.
Bị đơn ông Phạm Văn A, bà Nguyễn Thị N (do bà N đại diện) trình bày: Năm 2010, em chồng bà là ông Phạm Văn T, có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 89 (nay là thửa đất số 155), mang tên vợ chồng bà vay vốn ngân hàng tuy nhiên sau đó ông T vay ngân hàng nào thì vợ chồng bà không biết, vợ chồng bà có ký các văn bản để cho ông T vay ngân hàng, cụ thể ký vào các giấy tờ gì vợ chồng bà không nhớ. Tuy nhiên 1 tháng sau thì bà được biết có người tên Ngô Tuấn A1 vào thu lãi của ông T thì bà mới biết là ông T không vay ngân hàng mà vay tiền của anh Tuấn A1. Vợ chồng bà cho ông T mượn giấy chứng nhận nhiều lần ông T đều trả lại sau một thời gian, lần này hai bên không thoả thuận là khi nào phải trả lại giấy chứng nhận của vợ chồng bà. Vợ chồng bà không biết là ông T sang tên cho anh Tuấn A1 từ khi nào và không biết thửa đất hiện mang tên ai. Chỉ khi Toà án thông báo thì bà mới biết là giấy chứng nhận hiện nay mang tên bà L, còn vợ chồng và gia đình bà vẫn ở trên thửa đất này từ trước đến nay.
Trên thửa đất này có mẹ chồng bà là bà Đặng Thị D, hai vợ chồng bà, con trai là Phạm Văn O, con dâu là Nguyễn Thị H, con gái bà là Phạm Thị C đã lấy chồng ở Bắc Giang, nghỉ học đi làm từ năm lớp 10, khi gia đình xây dựng nhà thì chị C đi làm được bao nhiêu tiền đưa cho vợ chồng bà để cùng xây dựng nhà.
Nguồn gốc thửa đất trên là do vợ chồng bà mua khoảng năm 1989 sau đó năm 2001 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Phạm Văn A. Trên đất có 01 ngôi nhà 3 tầng xây dựng năm 2009, đến năm 2012 có xây dựng thêm và sơn sửa lại, nguồn tiền do vợ chồng bà làm là chính. Bà được biết thửa đất hiện nay là thửa số 155 mang tên là Nguyễn Thị L, được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận ngày 13/4/2022.
Nay bà L kiện đòi tài sản, quan điểm của vợ chồng bà là không đồng ý trả bà L. Ông Phạm Văn A đã ủy quyền cho bà để giải quyết liên quan đến vụ án. Tại phiên toà sơ thẩm bà đề nghị ông T phải có trách nhiệm chuộc đất về trả cho vợ chồng ông bà. Phía nguyên đơn yêu cầu thoả thuận với giá 2.300.000.000 đồng, ông T đồng ý chuộc với giá 1.500.000.000 đồng, bà trả thêm 200.000.000 đồng thành 1.700.000.000 đồng, đề nghị Toà án hoà giải giúp, trường hợp không thoả thuận được đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà trình bày thêm về phần tài sản trên đất có công sức của cụ D, anh O, chị C tuy nhiên không có tài liệu, chứng cứ gì cung cấp cho Toà án. Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Chị Phạm Thị C do bà Nguyễn Thị N đại diện trình bày: Con gái bà là Phạm Thị C kết hôn lần đầu ở thành phố T năm 2013, sau đó ly hôn và kết hôn lần 2 năm 2020. Hiện nay chị C ở xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị C không học hết lớp 10, nghỉ học đi làm công nhân, tiền làm nhà có công sức của cháu đóng góp đưa cho vợ chồng bà cùng gia đình để sửa lại năm 2012, khi đó cháu D1 đã 18 tuổi. Chị C được biết thửa đất số 155 hiện nay mang tên bà L, quan điểm của chị C là không nhất trí trả đất và nhà. Ngoài ra không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Bà Đặng Thị D do ông Phạm Văn T đại diện trình bày: Bà D là mẹ của ông và ông A hiện nay đang ở cùng vợ chồng ông A, bà N. Trên thửa đất đang tranh chấp có tài sản tuy nhiên bà D già yếu không có tài sản gì đóng góp cho gia đình ông A, không đóng góp gì về tài sản trên đất. Bà được biết thửa đất hiện nay là thửa số 155, mang tên là Nguyễn Thị L, được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận. Nay bà L kiện đòi tài sản, quan điểm của bà D là không đồng ý trả nhà và đất. Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Anh Phạm Văn O do ông Phạm Văn T đại diện trình bày: Anh Phạm Văn O là con trai của ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N. Năm 2010 anh có biết chú ruột là ông Phạm Văn T cần tiền để làm ăn, bố mẹ anh có cho mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 89, mang tên hộ gia đình ông T để vay vốn, cả gia đình anh đồng ý ký các văn bản thời điểm đó, sau này anh được biết là chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Ngô Tuấn A1, sinh năm 1981, địa chỉ: N, Đ, TP T. Sau đó anh Tuấn A1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông T1, bà P1. Hiện nay thửa đất mang tên ai anh không biết. Nay anh được Tòa án thông báo thửa đất đã mang tên bà Nguyễn Thị L. Trên thửa đất này có bà nội anh là bà Đặng Thị D, bố mẹ anh, vợ chồng anh. Em gái anh tên là Phạm Thị C, lấy chồng ở Bắc Giang, không liên quan đến thửa đất của gia đình, không đóng góp gì về tài sản trên đất. Trên đất có 01 ngôi nhà 3 tầng xây dựng năm 2009 do bố mẹ anh xây dựng. Năm 2011 anh kết hôn với chị Nguyễn Thị H, vợ chồng anh không xây dựng thêm tài sản gì.
Nay bà L kiện đòi tài sản, anh đã được biết ý kiến của mẹ anh, anh đồng ý. Anh đề nghị ông T phải bỏ tiền ra để chuộc lại thửa đất cho bố mẹ anh. Anh đề nghị Tòa án hòa giải giúp. Do bận công việc nên anh xin được vắng mặt các phiên họp, phiên hòa giải và các phiên tòa.
Chị Nguyễn Thị H do ông Phạm Văn T đại diện trình bày: Năm 2011, chị kết hôn với anh là Phạm Văn O. Chị đã được biết lời khai của anh O tại Toà án ngày 01/12/2023 chị nhất trí với lời khai của anh O. Do bận công việc nên chị xin được vắng mặt các phiên họp, phiên hòa giải và các phiên tòa. Ngoài ra không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Ông Nguyễn Anh T1 và bà Trần Thị Phương trình B: Ông bà đã được Tòa án thông báo về việc khởi kiện của bà L. Năm 2013, vợ chồng ông bà có mua thửa đất số 89, tại xã T, huyện T, tỉnh bắc Ninh của anh Ngô Tuấn A1. Hai bên có làm hợp đồng công chứng, chứng thực theo quy định và ông bà đã được sang tên trên GCNQSDĐ. Đến năm 2022, ông bà có chuyển nhượng thửa đất cho chị Nguyễn Thị L ở Hải Dương, hai bên có lập hợp đồng công chứng theo quy định. Khi mua và khi bán trên đất đã có tài sản trên đất. Khi mua và khi bán ông bà mua bán cả nhà và đất. Nay ông bà xác định không liên quan đến vụ án nên ông bà từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt tại các buổi làm việc và các phiên tòa. Ngoài ra ông T1, bà P không trình bày gì thêm.
Ông Phạm Văn T trình bày: Ông là em trai của ông Phạm Văn A, em chồng bà Nguyễn Thị N. Năm 2010, ông có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 89, mang tên vợ chồng ông Phạm Văn A và bà N để vay vốn ngân hàng tuy nhiên sau đó do cần tiền ngay nên có vay tiền của anh Ngô Tuấn A1. Vợ chồng ông Văn A và bà N có đồng ý cho ông mượn giấy chứng nhận, làm hợp đồng chuyển nhượng cho anh Tuấn A1 để cho ông vay tiền. Trước đó ông cũng đã mượn giấy chứng nhận của ông bà để vay sau đó lại chuộc về cho ông bà. Việc cho mượn giấy chứng nhận, ông bà và gia đình hoàn toàn tự nguyện và tạo điều kiện cho ông làm ăn. Sau này ông được biết anh Ngô Tuấn A1 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh T1 và bà Trần Thị P và hiện nay ông bà đã chuyển nhượng cho bà L. Việc chuyển nhượng của ông T1 bà P, ông không biết do giấy chứng nhận đã mang tên ông bà rồi.
Trên thửa đất này có mẹ ông là bà Đặng Thị D, hai vợ chồng ông A1, bà N, anh O, chị H. Chị Phạm Thị C, sinh năm 1993, lấy chồng ở Bắc Giang, không liên quan đến thửa đất của gia đình, không đóng góp gì về tài sản trên đất, tuy nhiên năm 2001 là thành viên hộ gia đình ông A1. Ông được biết thửa đất hiện nay là thửa số 155, mang tên là Nguyễn Thị L, được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận ngày 13/4/2022.
Nay bà L kiện đòi tài sản, quan điểm của ông là không đồng ý. Đề nghị trả lại đất cho ông A1 và bà N. Đối với số tiền ông vay anh Tuấn A1 ông sẽ trả cả gốc và lãi hoặc ông sẽ trả cho bà L số tiền theo thoả thuận dưới sự chứng kiến của Toà án. Tại phiên toà ông đồng ý chuộc lại đất và nhà với giá 1.500.000.000 đồng, nếu nguyên đơn không đồng ý ông đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra ông không có ý kiến yêu cầu gì thêm.
Toà án tiến hành xác minh và làm việc với Công an phường Đ cung cấp: Anh Ngô Tuấn A1 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Khu phố N, phường Đ, thành phố T. Cán bộ Toà án cùng cán bộ Công an xuống tại nhà anh Tuấn A1 nhiều lần nhưng không gặp. Vì vậy lập biên bản làm căn cứ giải quyết vụ án.
Từ những nội dung trên Tòa án nhân dân huyện Tiên Du đã căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 235, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 106, 107, 116, 117, 119, 158, 164, 165, 166, 189, 190, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95, 97, 98, 99, 100, 105, 166, 167, 168, 188, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
Buộc ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải trả lại đất số 155, tờ đồ 18, diện tích 211,2 m² tọa lạc tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đã được cấp GCNQSDĐ ngày 13/4/2022 mang tên bà Nguyễn Thị L cùng tài sản gắn liền trên đất cho bà L.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, bị đơn ông Phạm Văn A kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quyền đồng ý, giao thửa đất số 155 và toàn bộ tài sản trên đất cho ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N, nhưng ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải trích trả cho bà L giá trị tài sản chênh lệch là số tiền 2.200.000.000 đồng. Bị đơn ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N đồng ý với thỏa thuận như nguyên đơn đề nghị. Ông bà sẽ có trách nhiệm trích trả bà Nguyễn Thị L số tiền 2.200.000.000 đồng. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn T đồng ý, rằng ông T phải có nghĩa vụ liên đới cùng ông A, bà N trả bà L số tiền 2.200.000.000 đồng. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đồng ý với ý kiến của ông A, bà N, ông T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn A trong thời hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tố tụng nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L bà yêu cầu ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải trả lại bà thửa đất số 155 và tài sản trên đất mang tên bà Nguyễn Thị L. Bị đơn ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N có nơi cư trú tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, tài sản tranh chấp toạ lạc trên địa bàn huyện T. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 BLTTDS Toà án nhân dân huyện Tiên Du đã thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quyền đồng ý, giao thửa đất số 155 và toàn bộ tài sản trên đất cho ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N, nhưng ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải trích trả cho bà L giá trị tài sản chênh lệch là số tiền 2.200.000.000 đồng. Bị đơn ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N đồng ý với thỏa thuận như nguyên đơn đề nghị. Ông bà sẽ có trách nhiệm trích trả bà Nguyễn Thị L số tiền 2.200.000.000 đồng. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn T đồng ý, rằng ông T phải có nghĩa vụ liên đới cùng ông A, bà N trả bà L số tiền 2.200.000.000 đồng. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đồng ý với ý kiến của ông A, bà N, ông T. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác nên cần được ghi nhận. Do đó, cần giao đất số 155, tờ đồ 18, diện tích 211,2 m² tọa lạc tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đã được cấp GCNQSDĐ ngày 13/4/2022 mang tên bà Nguyễn Thị L cùng tài sản gắn liền trên đất cho ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N. Ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trích trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 2.200.000.000 đồng.
Ông Phạm Văn T phải có nghĩa vụ liên đới cùng ông Phạm Văn A, bà Nguyễn Thị N trả số tiền 2.200.000.000 đồng nêu trên cho bà Nguyễn Thị L.
Ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất theo quy định.
[4] Án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Điều 106, 107, 116, 117, 119, 158, 164, 165, 166, 189, 190, 288, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95, 97, 98, 99, 100, 105, 166, 167, 168, 188, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Giao thửa đất số 155, tờ đồ 18, diện tích 211,2m² tọa lạc tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đã được cấp GCNQSDĐ ngày 13/4/2022 mang tên bà Nguyễn Thị L cùng tài sản gắn liền trên đất cho ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N nhưng ông Phạm Văn T, ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ liên đới trích trả số tiền 2.200.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị L.
- Bà Nguyễn Thị L được nhận số tiền 2.200.000.000 đồng của ông Phạm Văn T, ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N.
Ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất theo quy định.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản Điều 357, 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí:
2.1. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N.
2.2. Hoàn trả bà Nguyễn Thị L số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lại số 0001188 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bị đơn ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải chịu 15.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (xác nhận nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đã nộp 15.000.000 đồng);
Buộc ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền là 15.000.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 04/2024/DS-PT ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 04/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản giữa Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Loan; Bị đơn: Ông Phạm Văn Anh
