TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2024/KDTM-PT
Ngày 06 - 5 - 2024
V/v “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn
Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Hồng Vân
Bà Trần Thị Mỹ Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 10/2023/TLPT-KDTM ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án Kinh doanh sơ thẩm số 07/2023/KDTM-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 22/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B. Địa chỉ: Tòa nhà T, số B T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoài N - Giám đốc ngân hàng TMCP B - Chi nhánh tỉnh N. Ủy quyền lại cho: Ông Nguyễn Thành S1 – Chức vụ Chuyên viên xử lý nợ - Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh tỉnh N - Phòng G. Địa chỉ: khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Đình T, sinh năm 1991 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1992 (vợ của ông T, hiện đã ly hôn, theo Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2024/QĐ-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Đều cư trú tại: xóm K, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Ông T, bà M có mặt;
- Người kháng cáo: Ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn; người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Căn cứ vào Giấy đề nghị xin vay vốn của khách hàng là vợ chồng ông Lê Đình T, sinh ngày 24/5/1991 (chồng) và bà Nguyễn Thị M, sinh ngày 02/9/1992 (vợ), đều cư trú tại: xóm K, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Ngày 03/11/2022 ông T bà M đã ký khế ước nhận nợ số 24D2021142/5 ngày 03/11/2022 theo Hợp đồng tín dụng số HDTD24D2021142 ngày 10/11/2021 vay của Ngân hàng TMCP B, tại phòng giao dịch huyện G, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ: khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An số tiền là 1.500.000.000 đồng. Thời hạn vay là 6 tháng kể từ ngày 03/11/2022 đến 03/5/2023 với lãi suất ba tháng đầu là 12,1%/năm, sau đó, lãi suất được điều chỉnh theo quy định của ngân hàng cho vay.
Ngày 07/11/2022 ông T, bà M tiếp tục ký khế ước nhận nợ số 24D2021142/6 ngày 07/11/2022 với số tiền 1.500.000.000 đồng. Thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 07/11/2022 đến ngày 07/5/2023 với lãi suất 12,1%/năm áp dụng cho 03 tháng đầu, sau đó được điều chỉnh theo quy định của ngân hàng cho vay. Phương thức trả nợ: Trả lãi hàng tháng; Gốc trả cuối kỳ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tài sản thế chấp để đảm bảo cho những khoản vay là thửa đất số 07, tờ bản đồ số 21; Địa chỉ thửa đất: khối Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An, diện tích sử dụng là 2.666,6m² đã được UBND thị X, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT425944 ngày 10/12/2014 mang tên ông Lê Viết L, sinh năm 1956 và bà Đào Thị Q, sinh năm 1969; Đều cư trú tại: khối Đ, phường H, thị xã T đã chuyển nhượng cho ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M theo Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2159CQ ngày 04/8/2021 đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã T, tỉnh Nghệ An bằng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC24D2021143 ngày 10/11/2021.
Kể từ khi vay vốn tính đến ngày 03/05/2023 ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền lãi của cả hai khế ước nhận nợ là 141.450.603 đồng, trong đó; số tiền lãi của khế ước nhận nợ số 24D2021142/5 ngày 03/11/2022 (kể từ ngày 03/11/2022 đến 03/5/2023) là 71.883.480 đồng; số tiền lãi của khế ước nhận nợ số 24D2021142/6 ngày 07/11/2022 (từ ngày 07/11/2022 đến 08/05/2023) là 69.567.123 đồng và số tiền gốc của khế ước nhận nợ số 24D2021142/5 ngày 03/11/2022 đã trả là 11 đồng.
Đến thời hạn tất toán hợp đồng của cả hai khoản vay tại 02 khế ước nhận nợ nêu trên thì ông T, bà M không trả nợ gốc, lãi cho ngân hàng theo đúng Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Đại diện ngân hàng đã thông báo nợ quá hạn bằng văn bản và cán bộ tín dụng ngân hàng đã đến tận gia đình đốc thúc việc trả nợ, đồng thời lập biên bản nhưng ông T, bà M cố tình không trả nợ cũng không ký vào biên bản làm việc với cán bộ ngân hàng. Do vậy, Ngân hàng phải khởi kiện ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị M để thu hồi các khoản nợ cụ thể như sau:
* Dư nợ của khế ước nhận nợ số: 24D2021142/5 ngày 03/11/2022 là 06 tháng kể từ ngày 03/11/2022 đến 03/5/2023: Nợ gốc 1.499.999.989 VNĐ;
· Lãi trong hạn: 20.194.521 VNĐ.Lãi trong hạn được tính bằng công thức: 1.500.000.000 (đồng) x [12.6% : 365] x 39 (ngày) = 20.194.521 (đồng); (Trong đó, 39 ngày là số ngày tính lãi trong hạn được tính từ ngày 25/03/2023 đến ngày đáo hạn 03/05/2023)
Lãi quá hạn: 50.227.397 VNĐ. Lãi quá hạn được tính bằng công thức: {1.499.999.989 (đồng) x [12.6% : 365] x 1 (ngày)} + {1.499.999.989 (đồng) x [12.6% : 365 x 150%] x 64 (ngày)} = 50.227.397 (đồng); [Trong đó: 1 ngày là số ngày quá hạn được tính từ ngày đáo hạn 03/05/2023 đến ngày 04/05/2023 (Chưa tính lãi chậm trả gốc); 64 ngày là số quá hạn được tính từ ngày 04/05/2023 đến ngày 07/07/2023]
* Dư nợ của khế ước nhận nợ số: 24D2021142/6 ngày 07/11/2022 là 6 tháng kể từ ngày 07/11/2022 đến 08/05/2023: Nợ gốc: 1.500.000.000 VNĐ
Lãi trong hạn: 22.783.562 VNĐ. Lãi trong hạn được tính bằng công thức: 1.500.000.000 (đồng) x [12.6% : 365] x 44 (ngày) = 22.783.562 (đồng); (Trong đó: 44 ngày là số ngày tính lãi trong hạn được tính từ ngày 25/03/2023 đến ngày đáo hạn ngày 08/05/2023).
Lãi quá hạn: 46.602.740 VNĐ.Lãi quá hạn được tính bằng công thức: 1.500.000.000 (đồng) x [12.6% : 365 x 150%] x 60 (ngày) = 46.602.740 (đồng); (Trong đó: 60 ngày là số ngày quá hạn được tính từ ngày đáo hạn ngày 08/05/2023 đến ngày 07/07/2023).
Tổng dư nợ ngân hàng yêu cầu ông T và bà M phải có trách nhiệm trả cho ngân hàng tại 02 kế ước nhận nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số HDTD24D2021142 ngày 10/11/2021 với tổng số tiền dư nợ tạm tính đến ngày 07/07/2023 (ngày xét xử) là 3.139.808.208 đồng (Ba tỷ một trăm ba mươi chín triệu tám trăm lẻ tám nghìn hai trăm lẻ tám đồng), trong đó:
- + Tổng nợ gốc: 2.999.999.989 VNĐ
- + Tổng lãi trong hạn: 42.978.083 VNĐ
- + Tổng lãi quá hạn: 96.830.136 VNĐ.
Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất mà ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị M thế chấp để đảm bảo cho khoản vay thấy rằng hiện trạng thửa đất không có gì thay đổi, trên thửa đất không có tài sản gì, số đo các cạnh của thửa đất đúng với các cạnh của thửa đất được thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số: BT425944 ngày 10/12/2014 mang tên ông Lê Viết L sinh năm 1956 và bà Đào Thị Q sinh năm 1969; Đều cư trú tại: khối Đ, phường H, thị xã T đã chuyển nhượng cho ông Lê Đình T, sinh năm 1991 và bà Nguyễn Thị M theo Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 2159CQ ngày 04/8/2021 đã được đang ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã T, tỉnh Nghệ An bằng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HDTC24D2021143, ngày 10/11/2021.
Về phía vợ chồng ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn là ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M
mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, các thông báo, văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông T và bà M không ký nhận các văn bản mà Tòa án đã tống đạt nên Tòa án đã lập biên bản về việc ông T và bà M không nhận, không ký vào biên bản giao nhận các thông báo, giấy triệu tập mà Tòa án tống đạt có sự chứng kiến của chính quyền địa phương. Do ông T và bà M không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập được lời khai, ý kiến của họ để lưu tại hồ sơ vụ án.
Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2023/KDTM-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, 288; 317; 318, 319, 351, 357, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 4, Điều 306 của Luật kinh doanh thương mại; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1, Điều 2 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng N1 về Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; khoản 2 điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng theo Quyết định số 1627/2001/TT-NHNN ngày 31/12/2010 của Thống đốc Ngân hàng N1; Điều 7, điểm a khoản 1 Điều 12, Điều 56 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B đối với ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền dư nợ gốc và các khoản lãi theo Hợp đồng tín dụng số HDTD24D2021142 ngày 10/11/2021 của cả hai khế ước nhận nợ (Khế ước nhận nợ số 24D2021142/5 ngày 03/11/2022 và Khế ước nhận nợ số 24D2021142/6 ngày 07/11/2022) tạm tính đến ngày 07/07/2023 là 3.139.808.208 đ (Ba tỷ một trăm ba mươi chín triệu tám trăm linh tám nghìn hai trăm linh tám đồng), trong đó: tổng số tiền nợ gốc là 2.999.999.989 đ (Hai tỷ chín trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm tám mươi chín đồng); Tổng số tiền lãi trong hạn 42.978.083 đ (Bốn mươi hai triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi ba đồng); Tổng số tiền lãi quá hạn 96.830.136 đ (Chín mươi sáu triệu tám trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi sáu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 08/7/2023, ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị M còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng ngày 10/11/2021 và được điều chỉnh mức lãi suất theo quyết định của Ngân hàng TMCP B theo từng thời kỳ.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP B làm đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị M không trả hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền, tiến hành kê biên, bán đấu giá phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số: BT425944 ngày 10/12/2014 đối với thửa đất số 07, tờ bản đồ số 21; Địa chỉ thửa đất: khối Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Diện tích sử dụng là 2666,6m² đã được UBND thị xã X, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất mang tên ông Lê Viết L, sinh năm 1956 và bà Đào Thị Q, sinh năm 1969; Đều cư trú tại: khối Đ, phường H, thị xã T đã được chuyển nhượng lại cho ông Lê Đình T, sinh năm 1991 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1992 theo Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 2159CQ ngày 04/8/2021 và đã được ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M thế chấp cho ngân hàng TMCP B tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HDTC24D2021143 ngày 10/11/2021.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà vẫn không đủ để trả nợ thì ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị M vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán các khoản nợ cho ngân hàng TMCP B cho đến khi thanh toán hết nợ.
Sau khi ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng TMCP B – Chi nhánh N- Phòng G có nghĩa vụ trả lại giấy tờ về tài sản thế chấp cho ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí sơ thẩm; chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 17 tháng 07 năm 2023, bị đơn ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M kháng cáo có nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về việc tống đạt các thủ tục cho ông T, bà M; về nội dung Ngân hàng không thông báo về việc thanh toán nợ và cũng không gửi các tài liệu liên quan đến khoản nợ. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An huỷ toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm ngày 07/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thành; chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Lê Đình Đình T và bà Nguyễn Thị M giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự tại phiên tòa được bảo đảm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Đình T và bà
Nguyễn Thị M; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung: Ngày 03/11/2022, ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M ký khế ước nhận nợ số 24D2021142/5 ngày 03/11/2022 theo Hợp đồng tín dụng số HDTD24D2021142 ngày 10/11/2021 vay của Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh N, Phòng G số tiền 1.500.000.000 đồng. Thời hạn vay là 6 tháng kể từ ngày 03/11/2022 đến 03/5/2023 với lãi suất ba tháng đầu là 12,1%/năm, sau đó, lãi suất được điều chính theo quy định của ngân hàng cho vay. Phương thức trả nợ: Trả lãi hàng tháng; Gốc trả cuối kỳ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Ngày 07/11/2022 ông T, bà M tiếp tục ký khế ước nhận nợ số 24D2021142/6 ngày 07/11/2022 với số tiền 1.500.000.000 đồng. Thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 07/11/2022 đến ngày 07/5/3023 với lãi suất 12,1%/năm áp dụng cho 03 tháng đầu, sau đó được điều chỉnh theo quy định của ngân hàng cho vay. Phương thức trả nợ: Trả lãi hàng tháng; Gốc trả cuối kỳ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản vay là thửa đất số 07, tờ bản đồ số 21; Địa chỉ thửa đất: khối Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Diện tích sử dụng là 2666,6m² đã được UBND thị xã X, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT425944 ngày 10/12/2014 mang tên ông Lê Viết L, sinh năm 1956 và bà Đào Thị Q, sinh năm 1969; Đều cư trú tại: khối Đ, phường H, thị xã T đã chuyển nhượng cho ông Lê Đình T, sinh năm 1991 và bà Nguyễn Thị M theo Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2159CQ ngày 04/8/2021 đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã T, tỉnh Nghệ An bằng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC24D2021143 ngày 10/11/2021.
Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng ông T, bà M đã trả của cả hai khế ước nhận nợ là 11 đồng nợ gốc và tổng số tiền lãi đã trả của cả hai khế ước nhận nợ là 141.450.603 đồng và vi phạm các nghĩa vụ của người vay vốn. Ngân hàng khởi kiện, Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã quyết định buộc ông Lê Đình T và và Nguyễn Thị M phải trả cho Ngân hàng CP B tổng số tiền dư nợ gốc và các khoản lãi theo Hợp đồng tín dụng số HDTD24D2021142 ngày 10/11/2021 của cả hai khế ước nhận nợ (Khế ước nhận nợ số 24D2021142/5 ngày 03/11/2022 và Khế ước nhận nợ số 24D2021142/6 ngày 07/11/2022) tạm tính đến ngày 07/07/2023 là 3.139.808.208 đồng (Ba tỷ một trăm ba mươi chín triệu tám trăm linh tám nghìn hai trăm linh tám đồng), trong đó: tổng số tiền nợ gốc là 2.999.999.989 đồng (Hai tỷ chín trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm
tám mươi chín đồng); Tổng số tiền lãi trong hạn 42.978.083 đồng (Bốn mươi hai triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi ba đồng); Tổng số tiền lãi quá hạn 96.830.136 đồng (Chín mươi sáu triệu tám trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi sáu đồng). Kể từ ngày tiếp theo ngày 08/7/2023 ông T, bà M còn phải tiếp tục chịu lãi suất của số tiền chậm thanh toán theo cam kết tại các hợp đồng tín dụng và Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nếu ông T, bà M không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ.
[3] Xét các nội dung kháng cáo của ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M, thấy rằng:
[3.1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn là ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M mặc dù đã được Tòa án gửi, tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, các thông báo, văn bản tố tụng của Tòa án nhiều lần nhưng ông T, bà M không ký nhận và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ, lời khai, quan điểm của mình về vụ án. Do ông T và bà M không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án; kết quả hỏi và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tại phiên tòa tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M là có cơ sở.
[3.2] Về nội dung: Ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị M vay của Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh N – Phòng G (gọi Ngân hàng B) theo Hợp đồng tín dụng số HDTD24D2021142 ngày 10/11/2021 và hai khế ước nhận nợ (Khế ước nhận nợ số 24D2021142/5 ngày 03/11/2022 và Khế ước nhận nợ số 24D2021142/6 ngày 07/11/2022). Theo đó, Ngân hàng B đã cấp tín dụng số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) cho ông T, bà M. Việc ký kết các hợp đồng các bên tham gia ký kết hợp đồng tín dụng; khế ước nhận nợ và Hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo cho các khoản vay có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; bên cho vay là Ngân hàng đã giải ngân, vợ chồng ông T, bà M đã nhận đủ số tiền cho vay. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M đã thanh toán nợ vay cho Ngân hàng tổng cộng là 141.450.614 đồng, trong đó nợ gốc đã trả là 11 đồng và tổng số tiền lãi của cả hai khế ước nhận nợ là 141.450.603 đồng và vi phạm các cam kết việc thanh toán nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, bà M cho rằng, ông T, bà M có vay của Ngân hàng số tiền 03 tỷ đồng nhưng đã tất toán xong. Còn 02 khế ước nhận nợ ngày 03/11/2022 và ngày 07/11/2022 ông T, bàn M nhận Nợ 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng ) là chỉ một mình ông T vay, bà M không liên quan gì nên việc xử lý tài sản chung để thanh toán nợ bà M không đồng ý. Theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị M; tại Kết luận giám định số 04/KL-KTHS(DD3-TL) ngày 18/3/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N, kết luận:
- - Chữ ký “Mến” tại trang 1, trang 2, chữ ký “Mến”, chữ viết” “Nguyễn Thị M” dưới mục “Bên vay” tại trang 3 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1,
- chữ ký “Mến”, chữ viết, “Nguyễn Thị mến” dưới mực “Bên vay” tại trang 3 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị M trên các tài liệu mẫu so sánh từ M1 đến M7 do cùng một người ký, viết ra.
- - Chữ ký “Mến” tại trang 1, trang 2 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký Nguyễn Thị M trên các tài liệu mẫu so sánh từ M1 đến M7 không phải do cùng một người ký ra.
Như vậy, mặc dù chữ ký “Mến” tại trang 1, trang 2 (ký giáp lai) tại khế ước nhận nợ ngày 07/11/2022 không phải chữ ký của bà M. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông Lê Đình T thừa nhận đã nhận đầy đủ số tiền 3.000.000.000 đồng theo hai khế ước nhận nợ của Ngân hàng. Và quá trình thực hiện vay vốn, ông T, bà M cũng đã thanh toán một phần nợ gốc và lãi suất cho Ngân hàng theo các khế ước đã nhận nợ. Mặc khác, mặc dù tại Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2024/QĐ-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An vợ chồng ông T, bà M đã thỏa thuận ly hôn nhưng quan hệ tài sản chung và nợ chung chưa giải quyết.
Bởi vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền dư nợ gốc và các khoản lãi theo Hợp đồng tín dụng số HDTD24D2021142 ngày 10/11/2021 của cả hai khế ước nhận nợ (Khế ước nhận nợ số 24D2021142/5 ngày 03/11/2022 và Khế ước nhận nợ số 24D2021142/6 ngày 07/11/2022 ) tạm tính đến ngày 07/07/2023 là 3.139.808.208 đồng (Ba tỷ một trăm ba mươi chín triệu tám trăm linh tám nghìn hai trăm linh tám đồng), trong đó: tổng số tiền nợ gốc là 2.999.999.989 đồng (Hai tỷ chín trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm tám mươi chín đồng); Tổng số tiền lãi trong hạn 42.978.083 đồng (Bốn mươi hai triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi ba đồng); Tổng số tiền lãi quá hạn 96.830.136 đồng (Chín mươi sáu triệu tám trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi sáu đồng); vợ chồng ông T, bà M còn phải tiếp tục chịu lãi suất của số tiền chậm thanh toán theo cam kết tại các hợp đồng tín dụng và Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nếu vợ chồng ông T, bà M không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật.
Từ các nội dung phân tích, đánh giá nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại đơn sự kháng cáo phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm thông báo đương sự nộp 300.000 đồng là thiếu sót cần rút kinh nghiệm.
[4] Về chi phí tố tụng: Tại cấp phúc thẩm, bà Mến yêu c giám định chữ ký, đã chi phí hết 4.350.000 đồng, tại phiên tòa bà M tự nguyện chịu toàn bộ (đã thực hiện xong), không có yêu cầu gì nên miễn xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 07/2023/KDTM-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí phúc thẩm: Buộc ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ liên đới phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm (kỷ phần ông T, bà M mỗi người phải chịu 1.000.000 đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại của Chi cục thi hành án dân sự dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu số 0001006 ngày 17/7/2023 (ông T, bà M mỗi người được khấu trừ 150.000 đồng).
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phấn |
Bản án số 04/2024/KDTM-PT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 04/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP VỀ HĐ TÍN DỤNG
