TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 04/2023/HS-ST Ngày 10-01-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường G – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 230/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Văn N, sinh năm 1990 tại Thái Bình; Nơi cư trú: KP H, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị L;
Tiền án: 01 – Tại bản án số 07/2016/HSST ngày 22/01/2016 Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (nay là thị xã P) xử phạt Nguyễn Văn N 08 năm 10 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B “có mặt”.
- Bị hại: Bùi Thị Hải Y, sinh: 2001 ở khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 13 giờ ngày 25/6/2023, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu đen BKS: 72K7- 8492 đi từ nhà đến đoạn đường vắng trên đường T gần núi T thuộc khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh BR-VT đứng đợi người đi đường ngang qua để chiếm đoạt tài sản. Đứng chờ khoảng 20 phút thì N nhìn thấy chị Bùi Thị Hải Y (sinh năm 2001; Nơi cư trú: Khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh BR-VT) điều khiển xe Honda SH Mode, màu xám, BKS: 72E1-663.14 đi trên đường T theo hướng từ trong núi T đi ra Quốc lộ E. Khi chị Y đi đến khu vực vườn tràm gần vị trí N đang đứng thì N nhanh chóng điều khiển xe mô tô chạy đến chặn đầu xe của chị Y, chị Y hoảng hốt bóp thắng nên tự ngã xuống đường. Thấy vậy, N đi tới dựng chiếc xe của chị Y rồi ngồi lên xe đồng thời dùng tay nắm lấy chiếc túi xách đang treo trên xe, lúc này chị Y cũng dùng tay giữ lại chiếc túi xách và nói “Cho em xin lại chiếc giỏ”, N liền giả vờ cho tay vào trong áo khoác hăm dọa “Mày buông ra không tao đâm mày chết”. Chị Y sợ bị N tấn công nên buông tay ra, ngay lập tức N điều khiển xe bỏ chạy đi. Sau đó, N điều khiển xe mô tô chiếm đoạt được chạy về nhà mình tại khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh BR-VT. Về đến nhà, N mở túi xách ra kiểm tra thấy bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax màu xanh; 01 tai nghe Bluetooth Airpod 2 và số tiền 7.100.000 đồng. N giấu xe, điện thoại và túi xách trong nhà rồi lấy số tiền 7.100.000 đồng bỏ trốn. Sau khi bị cướp tài sản, chị Y đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Sau đó, Cơ quan Công an thông qua định vị trên điện thoại di động của chị Y, đã tiến hành kiểm tra nhà của Nguyễn Văn N ở khu phố H, phường P, thị xã P thì phát hiện và thu giữ được 01 xe mô tô, loại xe SH mode màu xám, BKS: 72E1-663.14; 01 (một) ĐTDĐ Iphone 12 Promax màu xanh là tài sản má N đã cướp.
Ngày 14/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P mời Nguyễn Văn N đến làm việc, qua làm việc N đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên đồng thời giao nộp số tiền 4.850.000 đồng còn lại trong số tiền 7.100.000 đồng mà N đã cướp của chị Y.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 167/KL-HĐ.ĐGTS ngày 13/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã P kết luận:
- 01 xe mô tô honda SH mode, BKS: 72E1-663.14 trị giá 48.500.000₫ (Bốn mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax màu xanh, dung lượng 256Gb trị giá 18.500.000đ (Mười tám triệu năm trăm ngàn đồng).
- 01 tai nghe Bluetooth Airpod 2, trị giá 2.700.000₫ (Hai triệu bảy trăm ngàn đồng) (BL: 50, 51).
Bản Cáo trạng số 224/CT-VKS ngày 15-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ truy tố Nguyễn Văn N về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d, đ, h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
* Luận tội của Kiểm sát viên: Giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Từ đó đề nghị:
Về mức hình phạt:
Áp dụng điểm d, đ, h khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn N từ 11 đến 12 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
* Lời khai của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra, của bị hại, của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, do vậy có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 25/6/2023, tại khu vực đường T thuộc khu phố V, phường P, thị xã P, Nguyễn Văn N đã có hành vi điều khiển xe mô tô chặn đầu xe mô tô của chị Bùi Thị Hải Y đang chạy trên đường làm chị Y hoảng hốt thắng xe lại té ngã xuống đường. Sau đó, N đe dọa “Mày buông ra không tao đâm mày chết” làm chị Bùi Thị Hải Y hoảng sợ rồi cướp 01 xe mô tô honda SH mode, BKS: 72E1-663.14 trị giá 48.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax màu xanh, dung lượng 256Gb trị giá 18.500.000 đồng; 01 tai nghe Bluetooth Airpod trị giá 2.700.000 đồng và số tiền 7.100.000 đồng của chị Y. Tổng giá trị tài sản mà N đã cướp của chị Y là 76.800.000 đồng.
Hành vi chặn đầu xe mô tô của bị hại làm bị hại té ngã và dùng lời nói đe dọa sẽ dùng vũ lực (“Mày buông ra không tao đâm mày chết”) để chiếm đoạt tài sản của bị hại có tổng giá trị là 76.800.000 đồng cho mình đã phạm vào tội “Cướp tài sản” theo tình tiết định khung “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo điểm d, đ của Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo phạm tội khi có 01 tiền án cũng về tội “Cướp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp định khung “tái phạm nguy hiểm” theo điểm h của Điều 168 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải; đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả hậu quả; bị hại làm đơn bãi nại cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có 01 tiền án cũng về tội “Cướp tài sản” chưa được xóa án tích; Ra tù không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, tu chí làm ăn mà lại tiếp tục phạm tội nên xem xét xử bị cáo mức án thật nghiêm khắc để bị cáo có thời gian suy nghĩ về lỗi lầm của bản thân và phòng ngừa tội phạm chung.
[5]Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự.
[6]Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự theo yêu cầu của bị hại và tài sản thu hồi cũng đã trả lại cho bị hại nên phần trách nhiệm dân sự giải quyết xong
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại 01 xe mô tô honda SH mode, BKS: 72E1-663.14; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax màu xanh, dung lượng 256Gb và số tiền 4.850.000 đồng cho chị Bùi Thị Hải Y theo Quyết định xử lý vật chứng số 52/QĐ ngày 31/7/2023 (BL: 53, 60).
- - Đối với chiếc túi xách và 01 tai nghe Bluetooth Airpod 2 hiện không thu hồi được.
- - Đối với 01 xe mô tô gắn BKS: 72K7- 8492, số máy VDGZS152FMHG00002610, số khung RNDWCH0ND51C02610 không tìm thấy dữ liệu chủ sở hữu (đã chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản) là phương tiện bị cáo sử dụng trong khi gây án nên tịch thu sung công.
[8]Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ điểm d, đ, h khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn N 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-7-2023.
Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu sung công: 01(Một) Xe mô tô hai bánh, lóc máy ghi chữ HONDA, kiểu dáng Wave @, không có bửng, màu nâu, gắn biển số 72K7-8492, số máy: HC12E3146470, số khung: RLHHC1208BY346427, xe đã cũ và không hoạt động theo hiện trạng thực tế. (Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xe gắn biển số: 72K7-8492, màu đỏ đen, nhãn hiệu GENTE, số loại 110, số máy: VDGZS152FMHG00002610, số khung: RNDWCH0ND51C02610)
(Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 39/BB-CCTHADS ngày 30-11-2023).
Án phí: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thành |
Bản án số 04/2023/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về cướp tài sản
- Số bản án: 04/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N phạm tội “Cướp tài sản”.
