Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẢNG TRỊ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST

ngày 25/8/2023

V/v “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Phương Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Ngọc Anh và bà Võ Thị Nguyệt Ánh.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thông -Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ An - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 24/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2023/QÐST-HNGĐ ngày 11/8/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bích N, sinh năm 1996, địa chỉ: Khu phố B, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên toà.

Bị đơn: Anh Nguyễn Công N1, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/5/2023 và tại phiên toà nguyên đơn chị Lê Thị Bích N trình bày:

Năm 2016, chị Lê Thị Bích N và anh Nguyễn Công N1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Q, trên tinh thần tự nguyện.

Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung với gia đình bố mẹ chồng tại: Đ, thôn N, xã H, thị xã Q. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, anh Nguyễn Công N1 sống không chung thủy, thời kỳ chị N mang thai, anh không quan tâm chăm sóc mà còn quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, thường xuyên chơi cờ bạc qua đêm không về nhà, làm cho chị N rất bức xúc. Trong cuộc sống, anh N1 không chịu khó làm ăn, chăm sóc gia đình vợ con mà ham chơi cờ bạc, gây nợ nần làm ảnh hưởng đến cuộc sống kinh tế gia đình. Anh N1 nhiều lần vay mượn tiền của nhiều người, họ đến đòi không có tiền để trả nên bị đe doạ làm hoảng loạn và thường xuyên lo sợ. Từ đó anh N1 có hành động vũ phu đánh đập tôi nhiều lần, thực sự vợ chồng sống với nhau không có hạnh phúc, làm phát sinh nhiều mâu thuẩn không thể giải quyết được. Nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 1/2022 cho đến nay, quá trình ly thân vợ chồng không có quan hệ tình cảm gì nữa; anh Nguyễn Công N1 không quan tâm đến vợ con. Chị Lê Thị Bích N phải về nhà mẹ để ở cùng với hai con nhỏ tại khu phố B, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vì thế, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt và hôn nhân không thể kéo dài được nữa. Chị Lê Thị Bích N yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị giải quyết ly hôn anh Nguyễn Công N1.

Về con chung: Có 02 con chung, cháu Nguyễn Bảo N2, sinh ngày 27/8/2016 và cháu Nguyễn Tuệ N3, sinh ngày 24/01/2022. Hiện nay các cháu đang ở với chị Lê Thị Bích N. Ly hôn chị Lê Thị Bích N có nguyện vọng nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh Nguyễn Công N1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn anh Nguyễn Công N1 đều vắng mặt; không có bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Quá trình thụ lý, xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70,72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 81,82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho chị Lê Thị Bích N ly hôn anh Nguyễn Công N1.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Bích N4 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Nguyễn Bảo N2, sinh ngày 27/8/2016 và cháu Nguyễn Tuệ N3, sinh ngày 24/01/2022. Anh Nguyễn Công N1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Bích N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Vợ chồng chị Lê Thị Bích N và anh Nguyễn Công N1 quá trình chung sống xảy ra mâu thuẩn. Chị Lê Thị Bích N nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn anh Nguyễn Công N1, cư trú tại thôn N, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị là quan hệ pháp luật: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị (Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35của Bộ luật tố tụng dân sự).

[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự theo quy định của pháp luật, nhưng phía bị đơn anh Nguyễn Công N1 vẫn không đến Toà án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án. Bị đơn Nguyễn Công N1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên Tòa án hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn vắng mặt không có lý do; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Bích N và anh Nguyễn Công N1 đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, trên tinh thần tự nguyện, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong cuộc sống, anh Nguyễn Công N1 không chịu khó làm ăn, chăm sóc gia đình vợ con mà ham chơi cờ bạc, gây lâm vào nợ nần làm ảnh hưởng đến cuộc sống kinh tế gia đình. Từ đó vợ chồng không hoà thuận, thường xuyên xích mích, cải vã làm phát sinh nhiều mâu thuẩn, nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 1/2022 cho đến nay, quá trình đó, vợ chồng không có quan hệ tình cảm gì nữa và tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, không thể hàn gắn được. Toà án nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Công N1 đến hoà giải nhưng anh N1 không đến, chứng tỏ anh N1 không có thiện chí hoà giải để vợ chồng đoàn tụ. Tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt. Chị Lê Thị Bích N yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Công N1. Hội đồng xét xử thấy rằng việc yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Bích N là có cơ sở, cần chấp nhận (Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình).

[4] Về con chung: Vợ chồng có hai người con là cháu Nguyễn Bảo N2, sinh ngày 27/8/2016 và cháu Nguyễn Tuệ N3, sinh ngày 24/01/2022. Hiện nay, các cháu do chị Lê Thị Ngọc B chăm sóc nuôi dưỡng; anh Nguyễn Công N1 không quan tâm đến con cái. Xét thấy chị Lê Thị Bích N có đủ khả năng điều kiện trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chưa thành niên nhằm tạo điều kiện cho các con được học tập, giáo dục, phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét giải quyết giao cho chị Lê Thị Bích N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Bảo N2, sinh ngày 27/8/2016 và cháu Nguyễn Tuệ N3, sinh ngày 24/01/2022 (Căn cứ Điều 81,82 Luật hôn nhân và gia đình).

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Công N1 không có việc làm ổn định, không chịu khó làm ăn nên chị Lê Thị Bích N không yêu cầu anh Nguyễn Công N1 cấp dưỡng nuôi con, xét thấy cần chấp nhận.

[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Bích N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81,82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Bích N ly hôn anh Nguyễn Công N1.
  2. Về con chung: Xử giao cho chị Lê Thị Bích N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Bảo N2, sinh ngày 27/8/2016 và cháu Nguyễn Tuệ N3, sinh ngày 24/01/2022. Anh Nguyễn Công N1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây anh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Bích N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000141 ngày 15/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND thị xã Quảng Trị;
  • - Chi cục THADS thị xã Quảng Trị;
  • - UBND xã Hải Lệ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS vụ án, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Phương Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 04/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Lê Thị Bích N và anh Nguyễn Công N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger