|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/DS-PT. Ngày 10-01-2024. V/v: “chia tài sản chung, chia di sản thừa kế, tranh chấp hợp đồng đặt cọc" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Ông Hà Văn Nâu
Ông Nguyễn Trung Thông
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 10/01/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 154/2023/TLPT-DS ngày 12/10/2022 về việc: “Chia tài sản chung, chia di sản thừa kế, tranh chấp hợp đồng đặt cọc” do bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 245/2023/QĐ-PT ngày 30/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 287/QĐ-PT ngày 13/12/2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Mai Văn H, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1964 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
Anh Hà Văn T, sinh năm 1989 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Mai Thị T1, sinh năm 1983 (có mặt).
1
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
2. Anh Mai Xuân T2, sinh năm 1985 (vắng mặt)
3. Chị Thân Thị C1, sinh năm 1984 (vắng mặt)
4. Chị Mạc Thị B, sinh năm 1990 (có mặt).
5. Bà Mai Thị V, sinh năm 1956 (có đơn xin vắng mặt)
6. Bà Mai Thị V1, sinh năm 1960 (có mặt).
7. Ông Mai Văn L, sinh năm 1966 (có mặt).
8. Bà Mai Thị T3, sinh năm 1968 (có mặt).
9. Ông Mai Văn C2, sinh năm 1970 (có mặt).
10. Bà Thân Thị S, sinh năm 1972 (bà S ủy quyền cho ông C2)
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã N, L, tỉnh Bắc Giang.
11. Bà Mai Thị T4, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
12. Chị Chu Thị N, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
13. Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1979 (có đơn xin vắng mặt)
14. Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1981 (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã N, L, tỉnh Bắc Giang.
15. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1953 (có đơn xin vắng mặt)
16. Bà Thân Thị H1, sinh năm 1957 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã N, L, tỉnh Bắc Giang.
17. UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang
Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị H2 - Phòng TNMT huyện L
* Người kháng cáo: Anh Mai Xuân T2; bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2;
bà Mai Thị T4; bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01/12/2021, quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn anh Mai Văn H trình bày:
Bố anh là ông Mai Văn Q (chết ngày 09/04/2021 không để lại di chúc). Bố anh kết hôn với mẹ anh là bà Nguyễn Thị C vào năm 1981, có đăng kí kết hôn. Bố mẹ anh khi lấy nhau về sống chung với ông, bà nội anh là ông Mai Văn C3 (đã chết năm 1997 không để lại di chúc) và bà Nguyễn Thị T5 (Đã chết năm 2005 không để lại di chúc) tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ông C3 và bà T5 (ông, bà nội anh) lấy nhau sinh được 07 (bẩy) người con: Mai Thị V, Mai Thị V1, Mai Văn Q, Mai Văn L, Mai Thị T3, Mai Văn C2, Mai Thị T4.
2
Ông Q, bà C (bố mẹ anh) sinh được ba (03) người con là anh và Mai Thị T1, Mai Xuân T2.
Anh đề nghị Tòa án chia phần quyền sử dụng đất của anh được hưởng trong khối tài sản chung của hộ gia đình và chia di sản thừa kế mà anh được hưởng của của bố anh là ông Mai Văn Q đối với tài sản sau:
Thửa đất thứ nhất: Diện tích đất 1938,1m², trong đó đất thổ cư 400m2; Đất trồng cây lâu năm: 1538,1m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 133119, vào sổ cấp GCN số CH 01709, cấp ngày 13/12/2016, do UBND huyện L cấp đứng tên hộ ông Mai Văn Q.
Về các lần biến động quyền sử dụng đất trên như sau: Ngày 29 tháng 6 năm 2001 UBND huyện L cấp lần đầu thì diện tích đất trên là 1648m² (trong đó 1248m² đất vườn và 400m2 đất thổ cư); Ngày 06/10/2006 ông Mai Văn Q chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn L1 diện tích đất 182m² đất vườn đã làm thủ tục sang tên cho anh L1; Năm 2016 Nhà nước cấp đổi lại diện tích đất 1938,1m², trong đó đất thổ cư 400m²; Đất trồng cây lâu năm: 1538,1m². Ngày 10/5/2021 Nhà nước thu hồi theo Quyết định số 1031/QĐ-UBND ngày 28/5/2019 là 254,2m² (100m2 đất ở tại nông thôn, 154,2m² đất trồng cây lâu năm). Kết quả đo thực tế hiện nay 1676,8m² đất (300m² đất ở, 1376,8m² đất trồng cây lâu năm).
Nguồn gốc diện tích đất này trước là ông nội anh là ông Mai Văn C3 và bà Nguyễn Thị T5 khai hoang từ trước năm 2001 nhưng thời điểm đó đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2001 đất được cấp đất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, cấp cho hộ gia đình do bố anh ông Mai Văn Q là chủ hộ đứng tên. Thời điểm năm 2001 hộ gia đình anh gồm có 06 thành viên: anh, bà Nguyễn Thị T5, ông Mai Văn Q, bà Nguyễn Thị C, anh Mai Xuân T2, chị Mai Thị T1.
Đối với diện tích đất này anh xác định là tài sản chung hộ gia đình anh, anh là thành viên trong hộ gia đình nên anh đề nghị Tòa án chia phần của anh được hường 1/6 trên tổng diện tích đất. Đồng thời đề nghị chia di sản thừa kế mà anh được hưởng từ bố anh ông Mai Văn Q đối với diện tích đất này. Nguyện vọng anh được nhận bằng tiền, buộc bà Nguyễn Thị C sử dụng diện tích đất trên phải trích chia bằng tiền cho anh. Về tài sản trên đất, trong quá trình sinh sống trên đất anh có công sức đóng góp và xây dựng công trình trên đất theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/5/2022 nhưng anh không yêu cầu giải quyết. Anh đồng ý với kết quả định giá tài sản ngày 11/5/2022.
Thửa đất thứ hai: Diện tích đất 355,1m²; đất trồng cây lâu năm); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau viết tắt GCNQSDĐ): CM 046957, vào sổ cấp GCN số CS 03976 CO45 5161do sở tài nguyên môi trường tỉnh B cấp ngày 31/12/2017 đứng tên ông Mai Văn Q, địa chỉ đất tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nguồn gốc thửa đất là do ông Q và bà C đổi đất mà có. Về các lần cấp đổi GCNQSDĐ, ngày 30/6/2014 UBND huyện L cấp lần đầu với diện tích 366m²; đến năm 2017 đo đạc cấp đổi lại 355,1m²; ngày 10/5/2021 Nhà nước thu
3
hồi theo Quyết định số 1031/QĐ-UBND ngày 28/5/2019 là 18,5m² đất. Kết quả đo thực tế hiện nay 321m². Tài sản trên đất không có. Đối với diện tích đất này, anh yêu cầu Tòa án chia cho anh được hưởng phần di sản thừa kế của bố anh ông Mai Văn Q, phần di sản anh được hưởng đề nghị Tòa án giao cho bà C sử dụng.
Thửa đất thứ ba: Diện tích đất 26.800m², Đất trồng cây lâu năm GCNQSDĐ số SD218528, vào sổ cấp số 01717 cấp ngày 13 tháng 12 năm 2003. Đất cấp đứng tên hộ ông Mai Văn Q. Nguồn gốc đất do Nhà nước giao từ năm 1996, thời điểm này hộ gia đình có anh có 08 thành viên, gồm anh, ông C3, bà T5, ông Q, bà C, ông C2, anh T2, chị T1. Kết quả đo đạc hiện nay 24807m² đất. Hiện nay diện tích đất trên có bà C sử dụng 13305,5m², trên đất có trồng cây vải; ông C2 sử dụng diện tích đất 4033,5m² trên đất trồng cam; anh T2 sử dụng diện tích đất 7468m² trên đất trồng cây cam.
Đối với diện tích đất này anh xác định là tài sản chung hộ gia đình anh, anh là thành viên trong hộ gia đình nên anh đề nghị Tòa án chia phần của anh được hưởng 1/8 trên tổng diện tích đất trên 24807 m². Anh đề nghị chia di sản thừa kế mà anh được hưởng từ bố anh (ông Mai Văn Q) đối với diện tích đất này. Phần anh được chia trong khối tài sản và phần anh được hưởng di sản thừa kế đề nghị Tòa án giao cho bà C sử dụng. Về tài sản trên đất, trong quá trình sinh sống trên đất anh có công sức đóng góp trồng và chăm sóc cây nhưng anh không yêu cầu giải quyết.
Về yêu cầu độc lập của anh Hà Văn T, anh xác định bà C và ông Q có đồng ý chuyển nhượng cho anh T diện tích đất 145m² nằm trong thửa đất 1938,1m², nay anh đồng ý yêu cầu độc lập của anh T. Phần di sản của ông Q chia ra sau khi đã trừ đi phần đất đã chuyển nhượng cho anh T.
Bị đơn bà Nguyễn Thị C trong quá trình giải quyết vụ án và tại Phiên toà trình bày: Bà xác định lời trình bày trên của anh H là đúng về nguồn gốc ba thửa đất trên, hiện nay bà đang quản lý sử dụng cả ba tài sản trên. Nay bà đồng ý yêu cầu khởi kiện của anh H. Về phần bà, bà đề nghị Tòa án chia tài sản bà được hưởng trong khối tài sản chung là quyền sử dụng đất của hộ gia đình; chia tài sản chung của vợ chồng giữa bà và ông Q đối với diện tích đất 355,1m² đất trồng cây lâu năm (kết quả đo đạc hiện nay là 321m²) và chia di sản thừa kế mà bà được hưởng của ông Q đối với 03 thửa đất trên. Nguyện vọng của bà nhận bằng đất, do các diện tích đất trên bà sử dụng ổn định từ trước đến nay. Bà đồng ý với kết quả thẩm định, định giá tài sản ngày 11/5/2022. Về phần tài sản trên hai thửa đất 1938,1m² và 26800m² hiện nay có nhà và cây trồng là do bà và ông Q tạo lập nên, phần tài sản này bà không yêu cầu giải quyết.
* Về yêu cầu độc lập của anh Hà Văn T: Do muốn có tiền để trả nợ Ngân hàng nên thời điểm ông Mai Văn Q còn sống có nhờ anh Nguyễn Văn Á (con trai của bà Mai Thị V, chị gái ông Q) là cháu họ ông Q tìm người mua đất. Qua anh Ánh thì ông Q mới biết anh Hà Văn T có nhu cầu mua đất. Đến ngày 26/03/2021 bà có đại diện gia đình ký hợp đặt cọc để đảm bảo việc thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất 5m mặt đường, sâu vào hết đất (diện tích
4
đất 145 m² (trong đó 60 m² đất ở và 85 m² đất trồng cây lâu năm), diện tích đất này nằm trong diện tích đất 1938,1m²(đất vườn 1538,1 m²; đất ở 400 m²) tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH01709 vào ngày 13/12/2016 đứng tên hộ ông Mai Văn Q với giá chuyển nhượng là 630 triệu, anh T đã đặc cọc trước 500 triệu. Hai bên đang chờ làm thủ tục sang tên thì ông Q chết. Bà xác định việc chuyển nhượng đất cho anh T và nhận cọc là do vợ chồng cùng thống nhất bàn bạc và mục đích bán đất lấy tiền trả nợ ngay Ngân hàng. Khoản nợ là do vợ chồng cùng vay, ông Q đứng lên vay, chi trả Quỹ tín dụng Nghĩa H3 số tiền gốc 250 triệu và tiền lãi 4.006.800đồng; trả Ngân hàng N2 số tiền gốc 200 triệu đồng, tiền lãi 7.439.600đồng, tổng trả nợ 461.446.400đồng, xác định đây là nợ chung của ông Q và bà; Tiền Viện phí bà chữa trị có hóa đơn kèm theo là 51.989.000đồng. Nay bà đồng ý với yêu cầu độc lập của vợ chồng anh Hà Văn T, bà sẽ làm thủ tục sang tên đất cho anh T như thỏa thuận hợp đồng đặt cọc. Sau khi bà được Tòa án chia phần quyền sử dụng đất mà bà được hưởng, bà đề nghị Tòa án tách luôn phần diện tích đất 145 m² (trong đó 60 m² đất ở và 85 m² đất trồng cây lâu năm) cho anh T để giải quyết luôn trong vụ án này và anh T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền nốt cho bà số tiền 130 triệu đồng như thỏa thuận.
Trường hợp hợp đồng đặt cọc trên Tòa án không công nhận thì bà chấp nhận yêu cầu của anh T sẽ phải trả lại tiền nhận cọc 500 triệu và bồi thường 500 triệu đồng như thỏa thuận.
Trong trường hợp nếu một mình bà phải thực hiện hợp đồng đặt cọc cho anh T thì bà đề nghị chia di sản thừa kế của ông Q sau khi đã trừ các khoản nghĩa vụ của ông Q như tiền bà trả nợ Ngân hàng, ông Q phải chịu trả ½ tiền nợ và tiền Viện phí chữa trị ông Q là 51.989.000đồng.
Ngoài ra bà không yêu cầu các đồng thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ gì khác theo quy định pháp luật như tiền mai táng phí cho ông Q, bà T5 hay bất kỳ các nghĩa vụ gì khác theo quy định pháp luật.
Người liên quan có yêu cầu độc lập anh Hà Văn T trình bày: Ngày 26/3/2021 giữa anh và vợ chồng ông Q, bà C có ký kết hợp đồng đặt cọc để đảm bảo nghĩa vụ bà C và ông Q chuyển nhượng diện tích đất 5m rộng, sâu vào hết đất, phần đất giáp với nhà anh Nguyễn Văn L1 (diện tích đo là 145m² (trong đó 60 m² thổ cư và 85 m² đất trồng cây lâu năm) với giá chuyển nhượng 630 triệu đồng, diện tích đất này nằm trong diện tích đất 1938,1m² tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH01709 vào ngày 13/12/2016. Do ông Q nằm Viện, bà C có nhận tiền đặt cọc số tiền 500 triệu đồng và ký vào hợp đồng đặt cọc trên có anh Nguyễn Văn Á làm chứng. Nay anh đề nghị bà C phải thực hiện hợp đồng đặt cọc trên, làm thủ tục sang tên diện tích đất cho anh và anh sẽ trả cho bà C tiếp số tiền còn thiếu 130 triệu đồng.
Trường hợp hợp đồng đặt cọc trên vô hiệu theo quy định pháp luật hay bà C không thực hiện hợp đồng đặt cọc thì bà C sẽ phải trả lại tiền nhận cọc 500
5
triệu và bồi thường thiệt hại tương đương tiền phạt cọc 500 triệu đồng như thỏa thuận. Ngoài ra anh không yêu cầu phải bồi thường gì khác.
Chị Nguyễn Thị N1 thống nhất quan điểm của anh T.
Chị Mai Thị T1, bà Mai Thị V trình bày: Đều thống nhất lời trình bày của anh H, bà C xác định phần diện tích đất chị và bà được hưởng sẽ giao lại toàn bộ cho bà C sử dụng, quản lý theo quy định pháp luật. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L, bà Mai Thị T3, ông Mai Văn C2, bà Mai Thị T4, anh Mai Văn T6 trình bày:
Đều xác định về nguồn gốc diện tích đất tại thửa thứ nhất 1938,1m² và thửa thứ 3 diện tích đất 26.800m² như lời trình bày của các đương sự trên. Đều xác định đối với hai hiện tích đất này các ông, bà đều có được hưởng phần di sản thừa kế của bà T5 và ông C3, ông Q nhưng không đề nghị Tòa án chia trong vụ án này và cũng không đồng ý yêu cầu khởi kiện của anh H phân chia tài sản trên ra vì làm nơi thờ cúng tổ tiên. Đối với nguồn gốc diện tích đất 355,1m² xác định nguồn gốc đất này là ông Q được chia từ năm 1991 đến năm 1993 do thờ cúng liệt sỹ ông Mai Ngọc Y1 nên được Nhà nước giao. Đến năm 2014 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đồng ý chia thừa kế đối với diện tích đất này. Đối với yêu cầu độc lập của anh Hà Văn T, thì đều xác định không liên quan và không chịu trách nhiệm đến việc mua bán đất giữa bà C anh Hà Văn T.
Anh Nguyễn Văn L1 trình bày: Anh là hàng xóm với gia đình ông Mai Văn Q. Vào khoảng tháng 6 năm 2006 gia đình ông Q có chuyển nhượng cho anh diện tích đất 182m² (đất vườn) địa chỉ thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giá chuyển nhượng 21 triệu đồng, anh đã đưa đủ số tiền cho ông Q nhận. Việc tách sổ, làm thủ tục do ông Q đi làm anh không nắm rõ, anh chỉ biết ông Q mang các giấy tờ về cho anh ký. Nay anh không lưu giữ được hợp đồng chuyển nhượng hay các tài liệu gì liên quan đến việc chuyển nhượng. Sau khi ông Q làm thủ tục tách sổ đỏ đứng tên vợ chồng anh thì đưa cho anh giữ sổ đỏ từ năm 2006 đến nay (anh còn nhờ ông Q làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng luôn sang 75m² đất thổ cư, anh đóng thêm chi phí chuyển mục đích sử dụng đất). Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình anh vào năm 2008 có xây nhà kiên cố ở ổn định, có danh giới rõ ràng từ trước đến nay. Việc ông Q chuyển nhượng đất trên cho anh thì gia đình ông Q, vợ, con và các anh em ông Q đều biết.
Đến nay anh xác định việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên là hợp pháp, trong vụ án này anh không có yêu cầu độc lập.
Trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng trên vô hiệu theo quy định pháp luật thì về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu anh sẽ đề nghị giải quyết trong vụ án khác, trong vụ án này anh không yêu cầu gì.
Chị Nguyễn Thị Y thống nhất quan điểm trình bày của anh Nguyễn Văn L1.
6
Ông Nguyễn Văn K và bà Thân Thị H1 trình bày: Đối với diện tích đất 355,1m²; đất trồng cây lâu năm; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Mai Văn Q, ông, bà đang sử dụng một phần diện tích đất này 200m² do vào năm 2015 vợ chồng ông Q, bà C có chuyển nhượng cho ông, bà nhưng nay ông bà không ý kiến và không có yêu cầu giải quyết gì, đồng ý để cho chia di sản thừa kế theo đơn của anh H. Ông, bà Từ c tham gia tố tụng.
UBND huyện L trình bày: Về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 3 thửa đất trên đều đảm bảo đúng theo quy định pháp luật. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu cấp cho hộ) các thành viên trong sổ hộ khẩu của gia đình ông Q tại thời điểm cấp giấy đều được quyền sử dụng đối diện tích được cấp. Đối với diện tích đất 355,1m²; đất trồng cây lâu năm); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau viết tắt GCNQSDĐ): CM 046957, vào sổ cấp GCN số CS 03976 CO45 5161 do sở tài nguyên môi trường tỉnh B cấp ngày 31/12/2017 đứng tên ông Mai Văn Q là tài sản chung của ông Q và bà C. Hiện nay kết quả đo đạc của các diện tích đất trên UBND huyện L có sự chênh lệch, tăng, giảm so với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu xác định rõ ranh giới và các hộ từ trước đến nay không có chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng là do sai số đo đạc vì trước đo thủ công, nay đo bằng máy. Đề nghị Tòa huyện L căn cứ kết qua đo thực tế giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Thân Thị S và chị Thân Thị C1, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản theo quy định nhưng không trình bày quan điểm cũng không đến Tòa án làm việc.
Người làm chứng anh Nguyễn Văn Á trình bày:
Anh có mối quan hệ họ hàng với ông Q, anh là cháu của ông Mai Văn Q (mẹ anh là chị gái ông Q). Công việc chính của anh làm môi giới bất động sản. Vào khoảng tháng 3/2021 ông Q do có nợ tiền Ngân hàng nên phải bán đất đi trả nợ (diện tích đất ở thôn N, xã N), ông Q nhờ anh tìm người mua đất. Sau đó anh tìm được anh Hà Văn T, địa chỉ tại T, T có nhu cầu mua đất nên anh giới thiệu cho ông Q. Sau khi anh T lên đặt cọc tiền thì ông Q đi Viện. Ngày 26/3/2021 anh có điện thoại cho ông Q là có anh T lên đặt cọc mua đất, ông Q nói là “Bây giờ cậu đang ở Viện không về được, ở nhà bà C đại diện ký nhận cọc để đi trả tiền Ngân hàng”. Anh xác định có kí người làm chứng vào hợp đồng đặt cọc ngày 26/3/2021 giữa bà C và anh T. Bà C có nhận cọc số tiền 500 triệu đồng, thống nhất chuyển nhượng diện tích đất 5m rộng, sâu vào hết đất, phần đất giáp với nhà anh Nguyễn Văn L1 với giá chuyển nhượng 630 triệu đồng. Lý do đặt cọc tiền nhiều vậy là thời điểm này gia đình ông Q đang thế chấp sổ đỏ tại Ngân hàng, phải có đủ tiền mới rút được sổ ra làm thủ tục sang tên. Sau đó ngày 09/4/2021 ông Q không may đã mất tại Bệnh viện chưa kịp làm thủ tục sang tên đất cho anh Hà Văn T.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản ngày 11/5/2022:
7
- Thửa đất thứ nhất: Diện tích đất 1938,1m²(đất vườn 1538,1 m²; đất ở 400 m²) tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Mai Văn Q. Kết quả đo đạc thực tế hiện nay 1676,8m² (đất vườn 1376,8 m²; đất ở 300 m²). Tài sản trên đất: không đề nghị giải quyết.
Về giá đất ở: 5.000.000đ/1m²;
Đất trồng cây lâu năm (đất vườn) có giá 222.000đồng/1m².
- Thửa đất thứ hai: Diện tích đất 355,1m²(đất trồng cây lâu năm) tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Mai Văn Q. Kết quả đo đạc thực tế hiện nay 321m².
Về giá đất trồng cây lâu năm: 222.000đồng/1m². Tài sản trên đất: không.
- Thửa đất thứ ba: Diện tích đất 26.800m² thuộc lô 275; khoảnh 18, tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Mai Văn Q. Kết quả đo đạc thực tế hiện nay 24.807m².
Đất rừng có giá 170.000đồng/1m². Tài sản trên đất: không đề nghị định giá.
* Với nội dung trên Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã Quyết định:
1. Căn cứ Điều 229; Điều 230; Điều 232; Điều 238; Điều 368; Điều 677; Điều 636; Điều 637; Điều 690 Bộ luật dân sự 1995.
Điều 1 Luật đất đai năm 1993; Khoản 29 Điều 3; Điều 131; Điều 135; Điều 143 Luật đất đai năm 2013.
Điều 328; Điều 429; Điều 611; Điều 612; Điều 614; Điều 615; Điều 620; Điều 623; Điều 650; Điều 651; Điều 658; Điều 660 Bộ luật dân sự 2015.
Điều 33; Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Điều 147, 227; 228; 271 và Điều 273; Khoản 5; khoản 14 Điều 26; Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 xử:
1. Bà Nguyễn Thị C được chia quyền sử dụng diện tích đất 983m² (trong đó 154m² đất thổ cư và 829m² đất trồng cây lâu năm) tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 133119, vào sổ cấp GCN số CH 01709 ngày 13/12/2016(có sơ đồ kèm theo). Bà Nguyễn Thị C phải trích chia bằng tiền cho anh Mai Văn H số tiền 316.175.800đồng.
Tạm giao cho bà Nguyễn Thi C4 quản lý diện tích đất 548,8 m² (trong đó 86m² đất thổ cư và 462,8m² đất trồng cây lâu năm) tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 133119, vào sổ cấp GCN số CH 01709 ngày 13/12/2016 (có sơ đồ kèm theo).
2. Bà Nguyễn Thị C được chia quyền sử dụng diện tích đất 280,9m² đất trồng cây lâu năm tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp giấy
8
chứng nhận quyền sử dụng đất CM 046957, vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS 03976 CO45 5161 cấp ngày 31/12/2017 (có sơ đồ kèm theo).
Tạm giao cho bà Nguyễn Thị C4 quản lý diện tích đất 40,1m² đất trồng cây lâu năm tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CM 046957, vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS 03976 CO45 5161 cấp ngày 31/12/2017 (có sơ đồ kèm theo).
3. Bà Nguyễn Thị C được chia quyền sử dụng diện tích 13.178m² đất rừng sản xuất tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số SD218528, vào sổ cấp số 01717 cấp ngày 13/12/2003 (có sơ đồ kèm theo).
Tạm giao cho bà Nguyễn Thị C quản lý diện tích đất 127,5 m² đất rừng sản xuất tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số SD218528, vào sổ cấp số 01717 cấp ngày 13/12/2003 (có sơ đồ kèm theo).
Tạm giao cho ông Mai Văn C2 quản lý diện tích đất 4.033,5 m² đất rừng sản xuất tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số SD218528, vào sổ cấp số 01717 cấp ngày 13/12/2003 (có sơ đồ kèm theo).
Tạm giao cho ông Mai Xuân T2 quản lý diện tích đất 7.468m² đất rừng sản xuất tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số SD218528, vào sổ cấp số 01717 cấp ngày 13/12/2003 (có sơ đồ kèm theo).
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Hà Văn T: Công nhận sự thỏa thuận của bà Nguyễn Thị C và anh Hà Văn T: Bà Nguyễn Thị C phải thực hiện hợp đồng đặt cọc ngày 26/3/2021, phối hợp cùng vợ chồng anh Hà Văn T, chị Chu Thị N làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 145m² (trong đó 60m² đất thổ cư và 85m² đất trồng cây lâu năm) tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 133119, vào sổ cấp GCN số CH 01709 ngày 13/12/2016 (có sơ đồ kèm theo) trong trường hợp bà Nguyễn Thị C không phối hợp, thì vợ chồng anh Hà Văn T và chị Chu Thị N có quyền liên hệ các cơ quan chức năng để thực hiện thủ tục chuyển nhượng diện tích đất trên.
Anh Hà Văn T và chị Chu Thị N phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền 130.000.000đồng
Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, chi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 08/8/2023 bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2; bà Mai Thị T4; bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L, anh Mai Xuân T2 nộp đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm.
9
* Tại phiên tòa nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2; bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L trình bày: các ông bà không đồng ý bản án sơ thẩm, cho rằng bản án sơ thẩm xử giao toàn bộ tài sản của các ông bà và của cụ T5 cho bà C các ông bà không được thừa hưởng bất kỳ tài sản gì là không đảm bảo quyền lợi cho các ông bà. Các ông bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chia tài sản gồm:
- Chia thửa đất có diện tích 1.938m² (trong đó có 400m² đất trồng cây lâu năm và 1.538m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 mang tên hộ ông Mai Văn Q và tài sản gắn liền trên đất).
- Chia thừa kế đối với thửa đất có diện tích 26.800m² đất trồng cây lâu năm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 mang tên hộ ông Mai Văn Q.
- Đề nghị Tòa án hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Hà Văn T với vợ chồng bà C ông Q.
* Bà Mai Thị T4 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh Mai Xuân T2 trình bày: anh không đồng ý bản án sơ thẩm, đề nghị được chia tài sản của của anh trong khối tài sản chung của hộ ông Mai Văn Q gồm:
Thửa thứ nhất: Diện tích 1.938m2 cấp năm 2001.
Thửa thứ hai: Diện tích 355,1m2 cấp năm 2017.
Thửa thứ ba: Diện tích 26.800m2 cấp năm 2003
Cả 03 thửa đất trên đều đứng tên hộ ông Mai Văn Q. Đề nghị ông Q phải trả lại 02 sào ruộng của liệt sỹ Mai Ngọc Y1 mà ông Q được hưởng đến lúc ông Q mất. Nội dung này anh đã đề nghị nhưng tòa cấp sơ thẩm chưa giải quyết.
Ông Q không biết việc bà C ký Hợp đồng đặt cọc với ông Q.
Ông Q khi vay tiền ngân hàng có ký Hợp đồng bảo hiểm nên khi ông Q mất công ty bảo hiểm chi trả cho ông Q số tiền 1.000.000đồng tiền mai táng phí và 100.000.000đồng tiền bảo hiểm tính mạng. Tiền viện phí là 51.989.000đồng là do anh chi trả. Nên tổng số tiền bà C đang quản lý là 152.989.000đồng. Toàn bộ tài sản giao hết cho bà C là ảnh hưởng đến quyền lợi của anh.
Tại phiên tòa anh H trình bày: Anh không đồng ý với kháng cáo của các ông, bà và anh T2. Đối với thửa đất 1938,1m² anh T2 đề nghị để lại làm nơi thờ cúng và không chia nhưng anh T2 cũng không đề nghị được chia, trường hợp chia đề nghị trả lại diện tích đất của ông Mai Ngọc Y1 anh không đồng ý vì thửa đất này không có liên quan gì đến ông Y1. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử chia phần đất trên làm 6 phần, phần của anh T2 và phần của bà nội anh đã tạm giao cho bà C do anh T2 và hàng thừa kế của bà nội anh chưa yêu cầu.
10
Thửa đất diện tích 355,1m² anh T2 kháng cáo cho rằng không chia cho anh T2 là không đúng, do anh T2 không yêu cầu chia nên Tòa án đã tạm giao phần thừa kế của anh T2 cho bà C.
Thửa đất 26.800m² (Thực tế đo đạc đất còn 24.807m-) anh T2 kháng cáo đề nghị chia, do anh T2 từ tòa án cấp sơ thẩm không nộp tiền tạm ứng án phí và không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án nên tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét yêu cầu của anh T2 nhưng vẫn tạm giao cho ông C2 và anh T2 và bà C quản lý. Hàng thừa kế của bố anh và hàng thừa kế của cụ C3, cụ T5 có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Hợp đồng với anh Hà Văn T do mẹ anh đã tự lấy phần tài sản của mẹ anh để trả cho anh T nên anh không đồng ý với kháng cáo của anh T2.
Tại phiên tòa bà C trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của anh T2 và các ông bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2; bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L2, Mai Thị T4. Không có việc 02 sào ruộng của liệt sỹ Mai Ngọc Y1 nằm trong diện tích đất của bà với ông Q; số đất các anh chị em ruột của ông Q và anh T2 được hưởng thừa kế Tòa án cấp sơ thẩm tạm giao cho ông C2 và anh T2 quản lý và có 1 phần bà đang quản lý. Bà đồng ý nhận như bản án sơ thẩm tạm giao. Số tài sản mà Tòa án cấp sơ thẩm giao cho bà là phần tài sản của bà và do bà được hưởng thừa kế của ông Q. Số tiền anh T2 cho rằng bà đang quản lý là 152.989.000đồng là không đúng, bà đã chi phí trong khoản nợ chung của ông Q với bà.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2; bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L, anh Mai Xuân T2. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; giữ nguyên án sơ thẩm số 39/2022/DS-ST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang về việc “Chia tài sản chung, chia di sản thừa kế, tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Căn cứ khoản 3 của Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bà Mai Thị T4.
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự. Sửa án sơ thẩm về án phí.
Án phí sơ thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm b, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Anh H và chị T1 được chia trị giá 1.021.636.000đồng. Phần chị T1 cho bà C nên bà C phải chịu án phí 42.649.000đồng.
11
Bà C không phải là người cao tuổi nên bà C phải chịu án phí đối với phần tài sản được chia 2.078.903.000đồng (đã trừ phần tài sản phải trích chia cho anh H) là 73.578.000đồng. Do vậy bà C phải chịu án phí là: 116.227.700đồng. Anh H phải chịu án phí là 42.649.000đồng.
Bà V được chia số tiền 193.348.600đồng nhưng bà V là người cao tuổi nên miễn án phí cho bà V theo quy định tại điểm đ khoản 1, Điều 12 -Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2; bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L và anh Mai Xuân T2 không được chấp nhận nên các ông bà và anh T2 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 BLTTDS và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Mai Thị V1 là người cao tuổi nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1, Điều 12 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử phúc thấy:
[1]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà V, chị Y, anh L1, anh K có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. HĐXX căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa bà Mai Thị T4 vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 của Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bà Mai Thị T4.
[2]. Xét kháng cáo của bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2; bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L, anh Mai Xuân T2. Hội đồng xét xử thấy:
[2.1]. Quá trình Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ các ông bà đều xác định về nguồn gốc diện tích đất 1.938,1m² được Ủy ban nhân dân huyện L cấp chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/12/2016, đứng tên hộ ông Mai Văn Q. Các ông bà đều xác định thời điểm cấp bố mẹ của các ông bà là cụ T5 và cụ C3 đang là thành viên hộ gia đình với ông Q nên các ông bà được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ các ông bà chết đi để lại nhưng các ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã chia phần đất trên làm 6 phần cho các hàng thừa kế gồm: anh Mai Văn H, cụ Nguyễn Thị T5, ông Mai Văn Q, bà Nguyễn Thị C, anh Mai Xuân T2, chị Mai Thị T1. Phần của anh T2 và phần của cụ T5 và phần thừa kế anh T2 được hưởng của ông Q đã tạm giao cho bà C quản lý. Do anh T2 và hàng thừa kế của cụ T5 không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã cho anh T2 và các hàng
12
thừa kế của cụ T5 là bà Mai Thị T3, ông Mai Văn C2, bà Mai Thị T4, bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L có quyền khởi kiện bằng vụ án khác nếu các ông bà có yêu cầu. Như vậy đã đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Do vậy kháng cáo của các ông bà và anh T2 cho rằng giao hết cho bà C mà không chia cho các ông bà và anh T2 là không có căn cứ.
[2.2]. Đối với thửa đất diện tích đất 26.800m² đất trồng cây lâu năm, cấp chứng nhận quyền sử dụng đất số SD218528, vào sổ cấp số 01717 cấp ngày 13 tháng 12 năm 2003. Đất cấp đứng tên hộ ông Mai Văn Q. Các ông bà đều xác định đất là cấp cho thành viên hộ ông Q thời điểm cấp bố mẹ của các ông bà là cụ T5 và cụ C3 đang là thành viên hộ gia đình với ông Q, có phần tài sản của bố mẹ các ông bà chết đi để lại, ông C2 không yêu cầu gì còn bà T3, bà T4, bà V1, ông L đề nghị được chia thừa kế đối với thửa đất này.
Ngày 16/9/2023 Tòa án huyện Lục Ngạn đã thông báo cho các ông bà về việc nộp tiền tạm ứng án phí và ngày 16/9/2023 đã giao cho bà Mai Thị T4 và bà Mai Thị V1 và làm thủ tục niêm yết đối với anh Mai Xuân T2. Ngày 01/9/2023 giao cho anh Mai Văn L. Hết thời hạn niêm yết và hết thời hạn theo thông báo các ông bà không có ai nộp tiền tạm ứng án phí, không đề nghị Tòa án chia trong vụ án này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét yêu cầu của các ông bà. Tuy nhiên quá trình xét xử sơ thẩm đã xem xét đến phần tài sản của hộ gia đình ông Q tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 26.800m² nêu trên và chia thừa kế đối với phần tài sản của cụ T5 chết đi để lại cụ thể: Xác định thửa đất chia làm 8 phần gồm: cụ C3, cụ T5; ông Q bà C, bà V, anh T2, anh H và chị T1. Diện tích hiện trang thực tế đất hiện nay chỉ còn 24.807m², do vậy mỗi hàng thừa kế được chia là 3.100,8m². Phần của cụ T5 và cụ C3 chết đi để lại mỗi người 3.100,8m² chia cho 7 người con của hai cụ mỗi người bằng 442,97m² nên ông Q được hưởng thừa kế của hai cụ là 885,9m².
Do anh H và chị T1, bà V không nhận di sản mà đề nghị giao cho bà C nên bà C được hưởng của 5 người gồm: phần của anh H, chị T1, bà C, ông Q, bà V là 13.178m²; phần đất còn lại tạm giao cho ông C2 4.033,5m² và tạm giao cho anh T2 7.468m²; tạm giao cho bà C 127,5m². Các hàng thừa kế của ông Q là anh T2 và hàng thừa kế của cụ C3, cụ T5 có quyền khởi kiện ông C2, anh T2 và bà C bằng vụ án khác.
Do vậy kháng cáo của bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2; bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L và anh Mai Xuân T2 đối với thửa đất nêu trên cho rằng chia hết cho bà C là không có căn cứ.
[2.3]. Đối với thửa đất diện tích 355,1m² đất trồng cây lâu năm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017 đứng tên ông Mai Văn Q. Nguồn gốc thửa đất là do ông Q và bà C đổi đất mà có. Về các lần cấp đổi GCNQSDĐ, ngày 30/6/2014 UBND huyện L cấp lần đầu với diện tích 366m²; đến năm 2017 đo đạc cấp đổi lại 355,1m²; ngày 10/5/2021 Nhà nước thu hồi theo Quyết định số 1031/QĐ-UBND ngày 28/5/2019 là 18,5m² đất. Kết quả đo thực tế hiện nay 321m², không có tài sản trên đất. Do thửa đất mang tên ông Q, bà C nên Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông bà mỗi người 1/2 giá trị tài sản, phần của ông Q
13
160,56 m², còn lại chia 4 cho bà C, anh H, anh T2 và chị T1 mỗi người 40,1m². Phần của anh T2, do anh T2 không yêu cầu chia nên Tòa án đã tạm giao phần thừa kế của anh T2 cho bà C và cho anh T2 có quyền khởi kiện bằng vụ án khác nếu anh T2 có yêu cầu. Như vậy là đảm bảo quyền lợi cho anh T2. Việc anh T2 kháng cáo cho rằng thửa đất trên chia hết cho bà C anh không được hưởng lợi gì là không có căn cứ.
[2.4]. Ngoài ra anh T2 còn đề nghị đối với thửa đất 1.938.1m², đề nghị ông Q phải trả lại 02 sào ruộng của liệt sỹ Mai Ngọc Y1 mà ông Q được hưởng đến lúc ông Q mất (ông Y1 là chú ruột của bố anh). Hội đồng xét xử thấy qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ không do các đương sự xuất trình và do Tòa án thu thập thì không có tài liệu gì xác định thửa đất trên có liên quan đến ông Mai Ngọc Y1. Mặt khác anh T2 không phải là con đẻ của ông Y1 và cũng không phải hàng thừa kế theo quy định của pháp luật của ông Y1 nên không có quyền đề nghị Tòa án xem xét đối với phần tài sản của ông Y1 (nếu có). Do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét đối với yêu cầu này của anh T2.
[2.5]. Đối với hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất: Anh T2 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét ông Q không biết việc bà C ký Hợp đồng đặt cọc với anh T ngày 26/3/2021 và các ông bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2; bà Mai Thị T4; bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L đề nghị Tòa án hủy Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Hà Văn T với bà C. Hội đồng xét xử thấy: ông Q mất ngày 09/4/2021. Thời điểm bà C ký hợp đồng đặt cọc, ông Q đang bị ung thư phải điều trị tại bệnh viện V2, do một mình bà C không có quyền quyết định đối với diện tích đất này khi chưa có ý kiến của các đồng sở hữu khác. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa cấp sơ thẩm, bà C đồng ý yêu cầu độc lập của anh T phần tài sản của bà được chia bà sẽ thực hiện theo hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng cho anh T, chị N mà không ảnh hưởng gì đến phần tài sản của ông Q chết đi để lại. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu độc lập của anh T, buộc riêng bà C phải tiếp tục thực hiện Hợp đồng đặt cọc ngày 26/3/2021 theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự là có căn cứ.
[2.6]. Ngoài ra anh T2 còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ông Q khi vay tiền ngân hàng có ký Hợp đồng bảo hiểm nên khi ông Q chết Công ty bảo hiểm chi trả cho ông Q số tiền 1.000.000đồng tiền mai táng phí và 100.000.000đồng tiền bảo hiểm tính mạng. Tiền viện phí là 51.989.000đồng là do anh chi trả. Anh cho rằng tổng số tiền bà C đang quản lý là 152.989.000đồng mà không xem xét là ảnh hưởng đến quyền lợi của anh. Đối với đề nghị trên do khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án anh T2 không đề nghị giải quyết và Tòa án cấp sơ thẩm chưa thụ lý giải quyết nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ xem xét.
[3]. Từ những phân tích trên. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Mai Thị T3, ông Mai Văn C2, bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L và anh Mai Xuân T2 nêu tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự xử: Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục
14
Ngạn, tỉnh Bắc Giang về việc: “Chia tài sản chung, chia di sản thừa kế, tranh chấp hợp đồng đặt cọc” giữa nguyên đơn anh Mai Văn H với bị đơn bà Nguyễn Thị C.
[4]. Về án phí:
[4.1]. Án phí sơ thẩm: Do anh H và chị T1 mỗi người được chia giá trị quyền sử dụng đất ở thửa đất diện tích 1.938,1m² là 279,4m² (trong đó 50m² đất thổ cư và 229,4m² đất trồng cây lâu năm) trị giá 316.175.800đồng và được chia ở thửa đất 26.800m² (4.097,4m²) (trong đó có 3.100,8m² được chia và phần hưởng di sản của ông Q là 996,6m²) trị giá 696.558.000đồng. Tổng tài sản anh H, chị T1 được hưởng mỗi người là 1.021.636.000đồng. Do vậy chị T1, anh H mỗi người phải chịu án phí là: 42.649.000đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm chị T1 và bà C thống nhất phần chị T1 được hưởng cho bà C, về án phí bà C phải chịu do nhận tài sản của chị T1. Anh H nhất trí chịu án phí đối với phần tài sản anh được hưởng. Do vậy cần buộc anh H phải chịu án phí là 42.649.000đồng là đúng quy định tại khoản 2 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bà V được chia số tiền 193.348.600đồng nhưng bà vụ là người cao tuổi nên miễn án phí cho bà V theo quy định tại điểm đ khoản 1, Điều 12 -Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bà Nguyễn Thị C sinh ngày 20/6/1964 do vậy bà C không phải là người cao tuổi nên cần buộc bà C phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể bà C được chia phần tài sản gồm: Thửa 1.938,1m² trị giá 316.175.800đồng; thửa 355,1m² trị giá 35.631.000đồng và phần thừa kế của ông Q: 8.902.200đồng; thửa 26.800m² trị giá 696.558.000đồng; tổng số tài sản chia cho bà C của 3 thửa đất trị giá 1.057.267.000đồng. Do vậy bà C phải chịu án phí 43.718.000đồng và 42.649.000đồng nhận tài sản của chị T1. Tổng cộng bà C phải chịu án phí chia tài sản là 86.367.000đồng.
[4.2]. Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2, ông Mai Văn L và anh Mai Xuân T2 không được chấp nhận nên các ông bà và anh T2 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1, Điều 148 BLTTDS và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Mai Thị V1 là người cao tuổi nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 295, khoản 3 Điều 296, Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự, bà Mai Thị T4 phải chịu án phí phúc thẩm.
[5]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
15
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị T3; ông Mai Văn C2; bà Mai Thị V1, ông Mai Văn L và anh Mai Xuân T2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giữa nguyên đơn anh Mai Văn H với bị đơn bà Nguyễn Thị C về việc “Chia tài sản chung; Chia di sản thừa kế, tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
2. Căn cứ Điều 295, khoản 3 Điều 296, Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Mai Thị T4.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự. Sửa án sơ thẩm về án phí cụ thể:
3.1. Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 7 Điều 27; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Anh Mai Văn H phải chịu 42.649.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 14.000.000đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai thu số 0010571 ngày 01/01/2022. Anh H phải nộp thêm 28.649.000đồng.
Bà Nguyễn Thị C phải chịu 86.367.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. được trừ vào số tiền 5.500.000đồng theo biên lai thu số 0011192 ngày 26/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Bà C phải nộp thêm 80.867.000đồng
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Mai Thị V.
3.2. Án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bà Mai Thị T3, ông Mai Văn C2, bà Mai Thị T4, ông Mai Văn L và anh Mai Xuân T2 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông Mai Văn L đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu số 004204 ngày 08/8/2023; ông Mai Văn C2 đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu số 004209 ngày 08/8/2023; bà Mai Thị T4 đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0004207 ngày 08/8/2023; bà Mai Thị T3 đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0004208 ngày 08/8/2023; anh Mai Xuân T2 đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu số 004206 ngày 08/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Mai Thị V1. Trả lại bà Mai Thị V1 số tiền 300.000đồng đã nộp tại Biên lai thu số 004205 ngày 08/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
16
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
17
Bản án số 04/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về chia tài sản chung, chia di sản thừa kế, tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 04/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: chia tài sản chung, chia di sản thừa kế, tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hội Chiến chia thừa kế
