|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2022/KDTM-PT Ngày: 24 - 03 - 2022 |
|
|
“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũ.
Các Thẩm phán:
Bà Tôn Thị Thanh Thúy
Ông Nguyễn Hoàng Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trung An – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng: Ông Trương Minh Diền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 24 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 09/2021/TLPT-KDTM ngày 08 tháng 7 năm 2021, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2021/KDTM-ST, ngày 13 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 07/2021/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2021/QĐ-PT ngày 24/11/2021; Thông báo dời phiên tòa số 206/TB-TA ngày 21/12/2021; Thông báo dời ngày xét xử số 223/TB-TA ngày 04/01/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
Địa chỉ: Số 40-42-44 đường P, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang. Địa chỉ liên hệ: đường T, khóm S, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trí D (Có mặt), chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần K – Chi nhánh Sóc Trăng. Địa chỉ: đường T, khóm S, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 1720/UQ-NHKL ngày 14/8/2019).
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: đường V, khóm N, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Huỳnh Thị Hồng T, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: Số 59 đường Văn Ngọc Chính, khóm 5, phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị A, sinh năm 1950 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp P, xã S, huyện L, Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị A: Ông Huỳnh Hồng P, sinh năm 1971 (có mặt). Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (văn bản ủy quyền ngày 22/7/2019).
- Ông Huỳnh Hồng N, sinh năm 1950 chết ngày 31/01/2019.
Người kế thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Hồng N:
- Bà Lê Thị A, sinh năm 1950. (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Huỳnh Thị Hồng M, sinh năm 1966 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Huỳnh Hồng P, sinh năm 1971 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp An Thường, xã An Thạnh Nhất, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Huỳnh Hồng T, sinh năm 1974 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T), sinh năm 1976 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Huỳnh Hồng K, sinh năm 1980 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, Sóc Trăng.
- Bà Huỳnh Thị Hồng T, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: đường Văn Ngọc Chính, khóm 5, phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Lê Thị A, sinh năm 1950. (Có mặt)
- Ông Huỳnh Hồng P, sinh năm 1971 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp An Thường, xã An Thạnh Nhất, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Huỳnh Hồng T, sinh năm 1974 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T), sinh năm 1976 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Huỳnh Hồng K, sinh năm: 1980 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Huỳnh Thị Hồng T, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: đường Văn Ngọc Chính, khóm 5, phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Huỳnh Thị Hồng M, sinh năm 1966 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông Phan Văn T, sinh năm 1953 (vắng mặt). Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: đường T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Phan Văn T: Bà Trương Thị Kiều T, sinh năm: 1976 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (văn bản ủy quyền ngày 10/02/2020).
- Người kháng nghị: Viện Trưởng Viện Kiểm Sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/5/2018 của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Trí Dưỡng trình bày:
Ông Nguyễn Hoàng N, bà Huỳnh Thị Hồng T có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần K – Chi nhánh Sóc Trăng (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 710.000.000 đồng theo hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 48A/2015/HĐHM/2100-4241 ngày 23/3/2015 và hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 48A/2015/HĐTD/2100-4241 ngày 23/3/2015 với những nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: 710.000.000 đồng. Mục đích vay: Bổ sung vốn mua bán bia, nước giải khát. Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày 24/3/2015 đến hết ngày 23/3/2016. Lãi suất: Kể từ ngày giải ngân đầu tiên là 10,98%/năm, tính trên số dư nợ thực tế và thời gian vay nợ thực tế. Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% (gấp 1,5 lần) lãi suất cho vay ngay trước thời điểm nợ quá hạn. Phạt chậm nộp lãi trong hạn: 0,05%/ngày/số tiền lãi chậm nộp và số ngày chậm trả. Tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay 710.000.000 đồng và tiền lãi, tiền phạt theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 48A/2015/HĐTC/2100-4241 ngày 23/3/2015 là: Quyền sử dụng đất số V967018 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/11/2002, thửa đất số 107, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.575m², mục đích sử dụng: LNK, địa chỉ: Xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Trên đất có căn nhà chính cấp 4 diện tích 46,96m² và nhà sau diện tích 27,02m² nhưng không có đăng ký thế chấp vì nhà chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; Quyền sử dụng đất số B049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/4/1994, thửa đất số 264, 263, 203, 996, tờ bản đồ số 03, diện tích 21.510m²; mục đích sử dụng: Đất T + Q + 2L + LNK, địa chỉ: Xã S, huyện Long Phú, tỉnh Hậu Giang (nay là xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng). Theo hợp đồng thế chấp số 48A/2015/HĐTC/2100-4241 ngày 23/3/2015 đã được công chứng tại Văn phòng công chứng Khánh Hưng, thành phố Sóc Trăng (số công chứng 634, quyển số 05TP/CC-SCC/HĐGD) và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Nhiên, bà Thoa không thực hiện đầy đủ như thỏa thuận đã ký kết trong hợp đồng. Việc vi phạm hợp đồng tín dụng trên đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.
Tạm tính đến ngày 07/5/2021 ông Nhiên, bà Thoa còn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền cụ thể theo hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 48A/2015/HĐTD/2100-4241 ngày 23/3/2015 như sau: Vốn gốc: 710.000.000 đồng. Lãi trong hạn: 33.095.861 đồng, lãi quá hạn: 605.992.100 đồng. Tổng cộng: 1.349.087.961 đồng.
Căn cứ hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 48A/2015/HĐHM/2100-4241 ngày 23/3/2015 và hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 48A/2015/HĐTC/2100-4241 ngày 23/3/2015. Căn cứ hợp đồng thế chấp số 48A/2015/HĐTC/2100-4241 ngày 23/3/2015 và căn cứ các quy định của pháp luật hiện hành.
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần K yêu cầu Toà án giải quyết:
Buộc ông Nguyễn Hoàng N, bà Huỳnh Thị Hồng T phải thanh toán toàn bộ nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền tạm tính đến ngày 07/5/2021 là Vốn gốc: 710.000.000 đồng. Lãi trong hạn: 33.095.861 đồng. Lãi quá hạn: 605.992.100 đồng. Tổng cộng: 1.349.087.961 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã thỏa thuận từ ngày 08/5/2021 cho đến ngày thanh toán dứt nợ.
Trường hợp sau khi bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng ông Nguyễn Hoàng N, bà Huỳnh Thị Hồng T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản khác gắn liền với đất số 48A/2015/HĐTC/2100-4241 ngày 23/3/2015 để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
Đối với yêu cầu độc lập của Ông T, nguyên đơn có ý kiến như sau: Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu độc lập của Ông T vì khi ký hợp đồng thể chấp Ngân hàng đã đi xem xét thẩm định tài sản, thì ông N, bà A không có thông báo đất thế chấp đã chuyển nhượng cho Ông T nên Ngân hàng không biết, đồng thời việc thế chấp có đăng ký giao dịch đảm bảo. Ông T cho rằng đã chuyển nhượng đất bằng giấy tay từ năm 2001 đến nay vì sao không tiến hành thủ tục tách thửa và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.
Tại phiên tòa ông D xin rút lại phần yêu cầu lãi chậm trả số tiền 13.708.725 đồng và xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Quyền sử dụng đất số B049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/4/1994, thửa đất số 264, 263, 203, 996, tờ bản đồ số 03, diện tích 21.540m²; mục đích sử dụng: Đất T + Q + 2L + LNK, địa chỉ: Xã S, huyện Long Phú, tỉnh Hậu Giang (nay là xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng). Do đánh máy nhầm nên chỉ yêu cầu tính diện tích là 21.540m².
- Tại tờ giải trình ý kiến ngày 17/7/2018 bị đơn bà Huỳnh Thị Hồng T trình bày:
Ngày 24/3/2015 bà có ký hợp đồng tín dụng để vay tiền tại Ngân hàng K số tiền 710.000.000 đồng, do công việc làm ăn của bà không thuận lợi và bị vựt nợ quá nhiều và dẫn đến tình trạng không có tiền đóng lãi Ngân hàng dẫn đến nợ xâu trong thời gian qua và hiện tại thì hoàn cảnh gia đình bà khó khăn hiện bà không có nhà ở, tài sản thế chấp Ngân hàng là của cha, mẹ ruột của bà. Bà xin gia hạn một thời gian để bà bán đất trả tiền cho Ngân hàng.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/5/2019 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị A trình bày:
Ngày 23/5/2015 bà và chồng bà là ông Huỳnh Hồng Ncó ký hợp đồng thế chấp số 48A/2015/HĐTC/2100-4241 để thế chấp quyền sử dụng đất số V967018 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/11/2002, thửa đất số 107, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.575m², mục đích sử dụng: LNK, địa chỉ: Xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Trên đất có căn nhà chính cấp 4 diện tích 46,96m² và nhà sau diện tích 27,02m² nhưng không có đăng ký thế chấp vì nhà chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số B049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/4/1994, thửa đất số 264, 263, 203, 996, tờ bản đồ số 03, diện tích 21.510m²; mục đích sử dụng: Đất T + Q + 2L + LNK, địa chỉ: Xã S, huyện Long Phú, tỉnh Hậu Giang (nay là xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng). Vì Nhiên và Thoa vay tiền Ngân hàng nên phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng, còn phần đất thế chấp bà đã cho các con của bà. Riêng phần đất tại thửa số 203, tờ bản đồ số 3, diện tích 3.621m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số B049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/4/1994 thì vào năm 2001 đã chuyển nhượng cho ông Phan Văn T, lúc chuyển nhượng chỉ làm giấy tay chưa lập thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.
Đối với phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V967018 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/11/2002, thửa đất số 107, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.575m², mục đích sử dụng: LNK, địa chỉ: Xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thì bà đồng ý bán một phần để trả nợ Ngân hàng. Trong đó, xin chừa lại một phần đất gắn liền căn nhà lại cho Huỳnh Hồng P vì ông P không có chỗ ở nào khác.
- Tại tờ tường trình ngày 15 tháng 4 năm 2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Huỳnh Hồng P trình bày:
Ông và cha ông là ông Huỳnh Hồng Ncó lập tờ chuyển nhượng đất vườn để chuyển nhượng cho ông Phan Văn T phần đất có diện tích 5.100 m² đất tọa lạc tại ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, thời điểm đó cha ông đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp trong ngân hàng nên chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật cho ông Phan Văn T được, giá chuyển nhượng là 65 chỉ vàng 24K, Ông T đã giao đủ số vàng trên cho ông N, ông và ông N đã giao đất cho Ông T canh tác từ đó cho đến nay, ông đồng ý yêu cầu của Ông T. Qua kết quả đo đạc thực tế thì phần đất chỉ có 4.698,9m² trong đó 3.664m² thuộc thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03 và 1.034,9m 2 là của thửa 996 tờ bản đồ số 03 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/4/1994 cho hộ ông Huỳnh Hồng N.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Huỳnh Hồng Nđồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các bà Huỳnh Thị Hồng M, ông Huỳnh Hồng T, bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T), Huỳnh Hồng K, từ khi tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không nghi nhận được ý kiến gì.
- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường, bà Trương Thị Kiều T trình bày:
Ông Huỳnh Hồng N, sinh năm 1950 và ông Huỳnh Hồng P, sinh năm 1971 cùng địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng có chuyển nhượng cho Ông T phần diện tích đất vườn là 5.100m², thuộc thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng theo theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp cho ông Huỳnh Hồng Nhật ngày 18/4/1994, ngày 03/8/2010 đính chính thành tên ông Huỳnh Hồng Nchuyển nhượng vào ngày 09/5/2001 với giá là 65 chỉ vàng 24kara.
Lúc chuyển nhượng có làm giấy tay và có ông Nguyễn Thanh T và ông Lê Khải H cùng địa chỉ là người có đất liền ranh với đất của ông T chứng kiến và có xác nhận của Trưởng ban nhân dân ấp P là ông Nguyễn Thanh T ký ngày 06/8/2001.
Lúc chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N và ông P đang vay tiền ngân hàng nên không làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ông T được. Ông T nhiều lần đến nhà ông N và vợ ông N là bà Lê Thị A khi nào đáo hạn vay, để Ông T làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông, bà cứ hứa suông. Ông T có làm đơn gửi Ủy ban nhân dân xã S gửi địa chính ngăn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N khi đáo hạn nhưng cũng không thấy.
Ông N và bà A cho con gái là bà Huỳnh Thị Hồng T và con rễ là Nguyễn Hoàng N mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông, bà để vay tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần K nhưng không trả tiền cho Ngân hàng được nên ngân hàng đo đất trong đó có đất của Ông T. Ông T đã canh tác đất này hơn mười tám năm cho đến ngày hôm nay và có đóng thuế nông nghiệp cho nhà nước đến khi chính phủ miễn thu thuế.
Nay ông Phan Văn T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng giải quyết: Buộc ông Huỳnh Hồng P và hàng thừa kế thứ nhất của ông Huỳnh Hồng N(chết ngày 31/01/2019) là:
- + Bà Lê Thị A, sinh năm 1950.
- + Bà Huỳnh Thị Hồng M, sinh năm 1966.
- + Ông Huỳnh Hồng P, sinh năm 1971.
- + Ông Huỳnh Hồng T, sinh năm 1974.
- + Bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T), sinh năm 1976.
- + Ông Huỳnh Hồng K, sinh năm 1980.
- + Bà Huỳnh Thị Hồng T, sinh năm 1982.
Tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo tờ chuyển nhượng đất ngày 09/5/2001 và yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 9/5/2001 để ông Phan Văn T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 5.100m², thuộc thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (phần đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp cho ông Huỳnh Hồng N ngày 18/4/1994, ngày 03/8/2010 đính chính thành tên ông Huỳnh Hồng N). Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/5/2001 giữa Ông T và ông N vô hiệu thì Ông T yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, Ông T yêu cầu hàng thừa kế thứ nhất của ông N cùng có trách nhiệm trả cho Ông T 65 chỉ vàng 24K, Ông T đồng ý trả lại đất lại cho hàng thừa kế thứ nhất của ông N, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Qua kết quả đo đạc thực tế thì phần đất Ông T đang quản lý, sử dụng chỉ có 4.698,9m² trong đó 3.664m² thuộc thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03 và 1.034,9m 2 là của thửa 996 tờ bản đồ số 03 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/4/1994 cho hộ ông Huỳnh Hồng N. Do lúc chuyển nhượng không có đo đạc thực tế nên Ông T cũng đồng ý với kết quả đo đạc của Tòa án. Tại tòa người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Trương Thị Kiều T xin rút lại một phần yêu cầu cầu độc lập của Ông T, tại đơn yêu cầu độc lập của Ông T yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất 5.100m², nhưng qua kết quả đo đạc thì thực tế diện tích đất Ông T đang quản lý sử dụng chỉ có 4.698,9m². Nên Ông T xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện 401,1m². Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Ông T không đồng ý phát mãi tài sản đối với phần đất Ông T đã nhận chuyển nhượng.
* Sự việc được Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết.
Tại bản án sơ thẩm số: 03/2021/KDTM-ST ngày 13 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 30, Điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng các Điều 131; Điều 136; Điều 146; Điều 691, Điều 692 của Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 318; Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K đối với số tiền yêu cầu lãi phạt chậm trả 13.708.725 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Hoàng N và bà Huỳnh Thị Hồng T có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền tạm tính đến ngày 07/5/2021 là vốn gốc: 710.000.000 đồng. Lãi trong hạn: 33.095.861 đồng. Lãi quá hạn: 605.992.100 đồng. Tổng cộng: 1.349.087.961 đồng của hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 48A/2015/HĐHM/2100-4241 ngày 23/3/2015 và hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 48A/2015/HĐTC/2100-4241 ngày 23/3/2015.
- Kể từ ngày 08/5/2021 ông Nguyễn Hoàng N và bà Huỳnh Thị Hồng T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà ông Nguyễn Hoàng N và bà Huỳnh Thị Hồng T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần K cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần K.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Hoàng N và bà Huỳnh Thị Hồng T không thanh toán số tiền trên thì nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất số V967018 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/11/2002, thửa đất số 107, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.575m², mục đích sử dụng: LNK, địa chỉ: Xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Trên đất có căn nhà chính cấp 4 diện tích 46,96m² và nhà sau diện tích 27,02m² nhưng không có đăng ký thế chấp vì nhà chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (dành quyền ưu tiên mua lại phần diện tích đất gắn liền căn nhà cho ông Huỳnh Hồng P nếu ông P có yêu cầu); Quyền sử dụng đất số B049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/4/1994, thửa đất số 264, 263, 203, 996, tờ bản đồ số 03, diện tích 21.510m²; mục đích sử dụng: Đất T + Q + 2L + LNK, địa chỉ: Xã S, huyện Long Phú, tỉnh Hậu Giang (nay là xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng). Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 48A/2015/HĐTC/2100-4241 ngày 23/3/2015 được ký giữa Ngân hàng thương mại cổ phần K với bà Huỳnh Thị Hồng T, ông Nguyễn Hoàng N, bà Lê Thị A, ông Huỳnh Hồng N. Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Lê Thị A, ông Huỳnh Hồng P, bà Huỳnh Thị Hồng M, ông Huỳnh Hồng T, bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T), ông Huỳnh Hồng K, ông Phan Văn T có trách nhiệm bàn giao toàn bộ phần đất nêu trên để thi hành án.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phan Văn T. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 09/5/2001 giữa ông Phan Văn T với ông Huỳnh Hồng N, ông Huỳnh Hồng P vô hiệu toàn bộ.
- Buộc ông Phan Văn T có trách nhiệm giao trả lại toàn bộ diện tích đất và toàn bộ cây trồng trên đất theo đo đạc thực tế là 4.698,9m², trong đó 3.664m² thuộc thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03 và 1.034,9m 2 là của thửa 996 tờ bản đồ số 03 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/4/1994 cho hộ ông Huỳnh Hồng Ncho hàng thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T. Phần đất có số đo và vị trí tứ cận:
- - Thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03, diện tích 3.664m²:
- + Hướng Đông giáp bà Nguyễn Thị S có số đo 131,4m.
- + Hướng Tây giáp ông Võ Ngọc Đ có số đo 141,7m.
- + Hướng Nam giáp phần đất bà Lê Thị A có số đo 26,2m.
- + Hướng Bắc giáp phần đất bà Võ Thị D có số đo 27,4m.
- - Một phần thửa 996, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.034,9m²:
- + Hướng Đông giáp bà Nguyễn Thị S có số đo 40,1m.
- + Hướng Tây giáp bà Trương Thị Kiều T có số đo 40,1m.
- + Hướng Nam giáp phần đất bà Lê Thị A có số đo 25,5m.
- + Hướng Bắc giáp phần đất bà Lê Thị A có số đo 26,2m.
(Kèm theo 02 Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 23/9/2020 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng)
- Buộc hàng thừa kế thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho ông Phan Văn T 65 chỉ vàng 24K quy đổi thành tiền tại thời điểm xét xử sơ thẩm là (5.220.000 đồng/1chỉ vàng 24K x 65 chỉ vàng 24K = 339.300.000 đồng).
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Phan Văn T có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng hàng thừa kế thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T phải trả lãi cho ông Phan Văn T theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án, trong phạm vi di sản do ông N để lại.
- Buộc ông Phan Văn T có trách nhiệm giao trả lại toàn bộ diện tích đất và toàn bộ cây trồng trên đất theo đo đạc thực tế là 4.698,9m², trong đó 3.664m² thuộc thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03 và 1.034,9m 2 là của thửa 996 tờ bản đồ số 03 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/4/1994 cho hộ ông Huỳnh Hồng Ncho hàng thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T. Phần đất có số đo và vị trí tứ cận:
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Ngân hàng thương mại cổ phần K không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.087.237 đồng theo biên lai thu tiền số 0001890 ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn bà Huỳnh Thị Hồng T và ông Nguyễn Hoàng N phải chịu án phí số tiền 52.472.639 đồng.
- Án phí đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hàng thừa kế thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T phải liên đới chịu án phí số tiền 16.965.000 đồng.
Ông Phan Văn T là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần thẩm định tài sản thế chấp theo yêu cầu của nguyên đơn số tiền 2.080.000 đồng: Bị đơn ông Nhiên và bà Thoa phải chịu. Số tiền này nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K đã tạm ứng trước, nên bị đơn ông Nhiên và bà Thoa có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
- Chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Hàng thừa kế thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản là: 9.418.559 đồng. Số tiền này ông Phan Văn T đã tạm ứng trước nên hàng thừa kế thứ nhất của ông N phải thanh toán lại cho Ông T số tiền 9.418.559 đồng.
Hậu Giang (nay là xã S, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng). Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 48A/2015/HĐTC/2100-4241 ngày 23/3/2015 được ký giữa Ngân hàng thương mại cổ phần K với bà Huỳnh Thị Hồng T, ông Nguyễn Hoàng N, bà Lê Thị A, ông Huỳnh Hồng N. Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Lê Thị A, ông Huỳnh Hồng P, bà Huỳnh Thị Hồng M, ông Huỳnh Hồng T, bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T), ông Huỳnh Hồng K, ông Phan Văn T có trách nhiệm bàn giao toàn bộ phần đất nêu trên để thi hành án.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phan Văn T. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 09/5/2001 giữa ông Phan Văn T với ông Huỳnh Hồng N, ông Huỳnh Hồng P vô hiệu toàn bộ.
- Buộc ông Phan Văn T có trách nhiệm giao trả lại toàn bộ diện tích đất và toàn bộ cây trồng trên đất theo đo đạc thực tế là 4.698,9m², trong đó 3.664m² thuộc thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03 và 1.034,9m 2 là của thửa 996 tờ bản đồ số 03 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B049872 do Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cấp ngày 18/4/1994 cho hộ ông Huỳnh Hồng Ncho hàng thừa kế thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T. Phần đất có số đo và vị trí tứ cận:
- - Thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03, diện tích 3.664m²:
- + Hướng Đông giáp bà Nguyễn Thị S có số đo 131,4m.
- + Hướng Tây giáp ông Võ Ngọc Đ có số đo 141,7m.
- + Hướng Nam giáp phần đất bà Lê Thị A có số đo 26,2m.
- + Hướng Bắc giáp phần đất bà Võ Thị D có số đo 27,4m.
- - Một phần thửa 996, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.034,9m²:
- + Hướng Đông giáp bà Nguyễn Thị S có số đo 40,1m.
- + Hướng Tây giáp bà Trương Thị Kiều T có số đo 40,1m.
- + Hướng Nam giáp phần đất bà Lê Thị A có số đo 25,5m.
- + Hướng Bắc giáp phần đất bà Lê Thị A có số đo 26,2m.
(Kèm theo 02 Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 23/9/2020 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng)
- Buộc hàng thừa kế thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho ông Phan Văn T 65 chỉ vàng 24K quy đổi thành tiền tại thời điểm xét xử sơ thẩm là (5.220.000 đồng/1chỉ vàng 24K x 65 chỉ vàng 24K = 339.300.000 đồng), trong phạm vi di sản do ông N để lại.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Phan Văn T có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng hàng thừa kế thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T phải trả lãi cho ông Phan Văn T theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án, trong phạm vi di sản do ông N để lại.
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Ngân hàng thương mại cổ phần K không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.087.237 đồng theo biên lai thu tiền số 0001890 ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn bà Huỳnh Thị Hồng T và ông Nguyễn Hoàng N phải chịu án phí số tiền 52.472.639 đồng.
- Án phí đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hàng thừa kế thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T phải liên đới chịu án phí số tiền 300.000 đồng. Tuy nhiên, do bà A là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.
Ông Phan Văn T là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần thẩm định tài sản thế chấp theo yêu cầu của nguyên đơn số tiền 2.080.000 đồng: Bị đơn ông Nhiên và bà Thoa phải chịu. Số tiền này nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K đã tạm ứng trước, nên bị đơn ông Nhiên và bà Thoa có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
- Chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Hàng thừa kế thứ nhất của ông N là bà Lê Thị A; bà Huỳnh Thị Hồng M; ông Huỳnh Hồng P; ông Huỳnh Hồng T; bà Huỳnh Hồng T (Huỳnh Thị T); ông Huỳnh Hồng K; bà Huỳnh Thị Hồng T phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản là: 9.418.559 đồng. Số tiền này ông Phan Văn T đã tạm ứng trước nên hàng thừa kế thứ nhất của ông N phải thanh toán lại cho Ông T số tiền 9.418.559 đồng.
- Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Dũ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Hoàng Thành Tôn Thị Thanh Thúy |
Nguyễn Văn Dũ |
Bản án số 04/2022/KDTM-PT ngày 24/03/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 04/2022/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2022
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợ đồng tín dụng
