|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 04/2022/DS-ST Ngày 16 – 03 - 2022 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Hùng
- Ông Huỳnh Mậu Thìn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Tín – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2019/TLST–DS ngày 23 tháng 8 năm 2019, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/QĐ-ST ngày 18 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị A, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số 733/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Bị đơn: Ông Ngô Văn C, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số 161/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Bà Phan Thị T, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số 161/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Ngô Văn D, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số 277, ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
- Bà Ngô Thị M, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 50/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Ông Ngô Văn T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 727/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Bà Ngô Thị T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số 39-1, làng LunYang, thị trấn Liyao, huyện Gia Nghĩa, Đài Loan.
- Ông Ngô Văn N, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số 160/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Bà Ngô Thị N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số 559/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Bà Ngô Thị Út N, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số 172, đường ShangLin, số 9 làng Luping, thị trấn Fawan, huyện Changhua, Đài Loan.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Văn D, bà Ngô Thị M, ông Ngô Văn T, bà Ngô Thị T, ông Ngô Văn N, bà Ngô Thị N, bà Ngô Thị Út N: Bà Ngô Thị A, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số 733/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Bà Phan Thị T, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số 161/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Ông Ngô Hoài P, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số 872/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Ông Ngô Thanh T, sinh năm 1985.
- Ông Ngô Thanh S, sinh năm 1992.
- Bà Đỗ Tuyết T, sinh năm 1991.
Cùng địa chỉ: Số 161/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Hoài P, ông Ngô Thanh T, ông Ngô Thanh S, bà Đỗ Tuyết Tr: Bà Phan Thị T, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số 161/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Bà Ngô Thị Bích T, sinh năm 1982. Địa chỉ cuối cùng: Số 161/3, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Hiện nay sinh sống tại Đài Loan, không rõ địa chỉ (vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Địa chỉ: Số 12, Đường T, Phường 3, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Kim T, chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố B (yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố B – Phòng Giao dịch H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đàm L– Phó Giám đốc phụ trách (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Ngô Thị A, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Ngô Văn D, bà Ngô Thị M, ông Ngô Văn T, ông Ngô Văn N, bà Ngô Thị T, bà Ngô Thị N, bà Ngô Thị Út N trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông nội bà là ông Ngô Văn D đã khai phá, sau đó ông nội bà cho lại cha bà là ông Ngô Văn Ch 01 cái nền nhà và phần đất trống có chiều ngang 10m chạy dọc theo lộ, chiều dài 20m, thời gian cho đất khoảng 50 năm trước, khi cho đất không làm giấy tờ chỉ nói miệng, có cậm ranh đất đến nay vẫn còn. Khi cậm ranh đất có chú ruột là ông Ngô Văn N, cô ruột là bà Ngô Thị Út E chứng kiến. Sau khi nhận đất thì ông Ch có cất nhà ở trên nền nhà được cho, đất nền nhà nằm liền kề với phần đất hiện nay đang tranh chấp, năm 1995 thì ông Ch về phần đất của bà Nguyễn Thị H cất nhà ở cho đến nay. Khi ông Ch dời nhà qua đất bà Hai thì đất để trống, năm 1999 ông Ngô Văn C lấn chiếm quản lý, sử dụng cho đến nay. Năm 2002 cha bà có trình đơn lên chính quyền địa phương thì được giải quyết buộc ông Ngô Văn C giao trả đất chiều ngang 10m, chiều dài 20m, lúc đó có ông Trần Văn X là cán bộ địa chính xã V (nay là xã H), ông Hồ Văn N, ông Nguyễn Văn D là phó ấp G, ông Nguyễn Văn Đ là Trưởng Ban lập biên bản giải quyết. Năm 2009 mẹ bà là bà Hồ Thị Ch cùng với ông Nguyễn Thanh H là địa chính xã xuống đo đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phía gia đình ông C có vợ là bà Phan Thị T ra ngăn cản, xảy ra cự cãi nên việc đo đạc không thành. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà A xác định từ khi cụ D cho đất thì cha bà chưa sử dụng, để đất trống. Nay bà yêu cầu ông Ngô Văn C trả lại diện tích đất 190m2, thuộc một phần thửa 1309, tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Bà Phan Thị T là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Ngô Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Hoài P, ông Ngô Thanh T, anh Ngô Thanh S, chị Đỗ Tuyết T trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ ông C là ông Ngô Văn D và bà Phan Thị N cho đất ông C vào năm 1985, khi cho đất có viết giấy cho đất, có sự chứng kiến của ông Ngô Văn C2, ông Ngô Văn N, khi cho đất không cậm ranh, gia đình ông C là người quản lý, sử dụng đất cho đến nay. Khi ông D, bà N cho đất ông C thì có 02 cái đìa nuôi cá, trên bờ thì trồng dừa, sau đó nhà nước múc đất lấp thì gia đình ông C có làm rẫy nhưng khi có nước mặn thì không trồng trọt được nên đất để trống và nuôi gà. Năm 1997 ông C kê khai đăng ký và đến năm 1999 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc cấp giấy chứng nhận không đo đạc mà chỉ kê khai theo lời trình bày của người dân. Bà A khởi kiện yêu cầu ông C trả một phần đất diện tích 190m2, thuộc một phần thửa 1309, tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu thì ông C không đồng ý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày và tranh luận của các đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn bà Ngô Thị A khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Ngô Văn C giao trả phần đất tọa lạc tại ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị T, bà Ngô Thị Út N và bà Ngô Thị Bích T đang sinh sống tại Đài Loan trước khi thụ lý vụ án, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Nguyên đơn bà Ngô Thị A khởi kiện yêu cầu ông Ngô Văn C trả lại phần đất qua đo đạc thực tế diện tích 190m2, thuộc một phần thửa số 1309, tờ bản đồ số 04, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 531670 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp cho hộ ông Ngô Văn C ngày 11/9/1999, đất có số đo như sau: Hướng Đông giáp lộ Bê tông có số đo 10m; Hướng Tây giáp phần đất ông Ngô Văn C có số đo 10m; Hướng Nam giáp đất ông Ngô Văn C có số đo 19m; Hướng Bắc giáp đất bà Huỳnh Thị Đ có số đo 19m. Hiện trạng là đất trống, không có cây cối, tài sản trên đất.
[4] ... Xét thấy, những người làm chứng nêu trên chỉ có lời trình bày, không có tài liệu hay văn bản xác định cụ D có thật sự cho đất ông Ch. Nguyên đơn bà A xác định cụ D cho đất ông Ch cách nay 50 năm, tuy nhiên gia đình ông Ch không có quản lý, sử dụng, không kê khai đăng ký để cấp quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai. Phần đất tranh chấp các đương sự thống nhất xác định ông C là người quản lý, sử dụng. Đồng thời ông C kê khai đăng ký và được Ủy ban nhân dân thị xã Bạc Liêu cấp quyền sử dụng đất... Việc ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng trình tự, thủ tục theo Luật đất đai năm 1993.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 5, khoản 9 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 70, khoản 1 Điều 91, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị A về việc yêu cầu ông Ngô Văn C trả diện tích đất 190m2, thuộc một phần thửa số 1309, tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu do Ủy ban nhân dân thị xã Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Ngô Văn C ngày 11/9/1999.
2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp số tiền là 2.276.480 đồng bà Ngô Thị A phải chịu và đã nộp xong.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thị A phải chịu số tiền 300.000 đồng. Bà A đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010197 ngày 21/8/2019 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
|
Nơi nhận: - TANDTCC tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; Tòa. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thanh Dũng |
Bản án số 04/2022/DS-ST ngày 16/03/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 04/2022/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/03/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Ánh yêu cầu ông Ngô Văn C trả lại diện tích đất 190m2, thuộc một phần thửa 1309, tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại ấp Giồng Giữa, xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
