|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 04/2021/KDTM-PT Ngày: 09-11-2021 V/v “T/c hợp đồng thi công” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Võ Hoàng Khải |
| Các Thẩm phán: | Ông Võ Thái Sơn Bà Võ Thị Phượng |
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Hùng Vĩ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 09 tháng 11 năm 2021, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 03/2021/TLPT-KDTM ngày 24 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công”.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2021/KDTM-ST ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 07/2021/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: DNTN N; địa chỉ ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông T – Chức vụ: Giám đốc; địa chỉ ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông P; địa chỉ đường K, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: CÔNG TY TNHH XÂY LẮP ĐIỆN TUẤN HIỀN; địa chỉ ấp 1, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông TH – Chức vụ: Giám đốc; địa chỉ ấp 1, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông P trình bày: Giữa DNTN N và CÔNG TY TNHH H (sau đây viết tắt là CÔNG TY H) có ký kết hợp đồng thi công vào tháng 01/2018, theo đó DNTN N đồng ý nhận thi công móng trụ VT 39 và VT 41 công trình đường dây 500KV Sông Hậu – Đức Hòa cho CÔNG TY H. Giá trị hợp đồng là 3.070.225.400 đồng; Quá trình thực hiện hợp đồng, DNTN N đã hoàn thành việc thi công các móng trụ theo hợp đồng. Tuy nhiên, phía CÔNG TY H chỉ mới thanh toán cho DNTN N 2.770.225.419 đồng tương đương 90% giá trị hợp đồng, còn nợ lại 10% giá trị hợp đồng 307.022.540 đồng chưa thanh toán, vì vậy hai bên đến nay chưa thanh lý hợp đồng và cũng chưa nghiệm thu công trình.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán đủ số tiền còn nợ theo hợp đồng thi công là 307.022.540 đồng (ba trăm lẻ bảy triệu không trăm hai mươi hai nghìn năm trăm bốn mươi đồng).
Quá trình tố tụng tại tòa án, người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Nguyễn Phước Thơm trình bày như sau: Ông thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về việc ký kết hợp đồng giữa hai bên. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng, CÔNG TY H đã thanh toán đủ 100% giá trị hợp đồng là 3.070.225.419 đồng. Việc này thể hiện qua các chứng từ sau:
- Ủy nhiệm chi số 0041 do Ngân hàng BIDV lập ngày 27/12/2018 thể hiện Công ty Tuấn Hiền chuyển cho ông T 100.000.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi số 0036 do Ngân hàng BIDV lập ngày 02/01/2019 thể hiện Công ty Tuấn Hiền chuyển cho ông T 100.000.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi số 0044 do Ngân hàng BIDV lập ngày 17/01/2019 thể hiện Công ty Tuấn Hiền chuyển cho ông T 100.000.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi Ngân hàng Agribank lập ngày 16/9/2020 thể hiện Công ty Tuấn Hiền chuyển cho DNTN N số tiền 570.225.419 đồng.
- Ủy nhiệm chi Ngân hàng Agribank lập ngày 19/10/2019 thể hiện Công ty Tuấn Hiền chuyển cho DNTN N số tiền 1.000.000.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi số 0014 do Ngân hàng BIDV lập ngày 19/6/2019 thể hiện Công ty Tuấn Hiền chuyển cho DNTN N số tiền 1.200.000.000 đồng.
Do hai bên chưa gặp nhau để thanh lý hợp đồng và nghiệm thu công trình chứ không phải vì bị đơn chưa thanh toán mà chưa thanh lý. Bị đơn không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tại bản án sơ thẩm số: 01/2021/KDTM-ST ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang đã tuyên xử như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn DNTN N do ông T làm chủ doanh nghiệp đối với bị đơn CÔNG TY TNHH H.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí; quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.
Ngày 04 tháng 3 năm 2021 nguyên đơn DNTN N có đại diện theo pháp luật là ông T kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng, ba ủy nhiệm chi số 0041 ngày 27/12/2018 số tiền 100.000.000 đồng, ủy nhiệm chi số 0044 lập ngày 17/01/2019 số tiền 100.000.000 đồng, ủy nhiệm chi số 0036 lập ngày 02/01/2019 số tiền 100.000.000 đồng, là tiền CÔNG TY H chuyển cho DNTN N tạm ứng tiền trong quá trình thi công thông qua tài khoản cá nhân chứ không dùng tài khoản công ty. Để đảm bảo thanh toán tạm ứng và quyết toán công trình, DNTN N đã chuyển trả ngược lại cho CÔNG TY H thông qua hai giấy nộp tiền mặt số 0018 lập ngày 19/6/2019 giá trị nộp là 1.200.000.000 đồng do ngân hàng BIDV lập và giấy nộp tiền lập ngày 16/9/2020 số tiền nộp là 570.413.593 đồng do ngân hàng Agribank lập...
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ theo hợp đồng ghi tháng 01 năm 2018 không điền ngày. CÔNG TY H có ký kết hợp đồng thi công xây dựng với DNTN N; theo đó DNTN N nhận thi công móng trụ VT 39 và VT 41 công trình đường dây 500KV Sông Hậu – Đức Hòa cho CÔNG TY H với giá ký kết theo hợp đồng là 3.070.225.400 đồng...
[2] Tại phiên tòa DNTN N và CÔNG TY H đều thống nhất: Giá trị hợp đồng thi công xây dựng ký kết là 3.070.225.400 đồng; thống nhất ủy nhiệm chi số 0014 lập ngày 19/6/2019 chuyển vào tài khoản DNTN N 1.200.000.000 đồng, ủy nhiệm chi lập ngày 19/10/2019 chuyển vào tài khoản DNTN N số tiền 1.000.000.000 đồng, ủy nhiệm chi lập ngày 16/9/2020 chuyển vào tài khoản DNTN N 570.225.419 đồng, là khoản tiền thanh toán hợp đồng thi công xây dựng...
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 138, Điều 141, Điều 144, Điều 147 của Luật Xây dựng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của DNTN N.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của DNTN N đối với CÔNG TY TNHH H.
Sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Buộc CÔNG TY TNHH H do ông TH làm đại diện theo pháp luật trả cho DNTN N do ông T làm chủ doanh nghiệp số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của DNTN N buộc CÔNG TY TNHH H trả 7.022.540 đồng (bảy triệu không trăm hai mươi hai nghìn năm trăm bốn mươi đồng).
- Về án phí: CÔNG TY TNHH H phải chịu 15.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. DNTN N phải chịu 3.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại không giá ngạch.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 09 tháng 11 năm 2021.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - TAND H. Châu Thành A; - Chi cục THADS H. Châu Thành A; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hoàng Khải |
Bản án số 04/2021/KDTM-PT ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang về tranh chấp hợp đồng thi công
- Số bản án: 04/2021/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/11/2021
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán đủ số tiền còn nợ theo hợp đồng thi công là 307.022.540 đồng (ba trăm lẻ bảy triệu không trăm hai mươi hai nghìn năm trăm bốn mươi đồng).
