|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 04 /2021/HNGĐ-PT Ngày: 31/3/2021 "V/v: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trường; Ông Nguyễn Minh Tân
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Quyên- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số 01/2021/TLPT-HNGĐ ngày 06/01/2021, về việc "Tranh chấp ly hôn, chia tài chung vợ chồng". Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 46/2020/HNGĐ-ST ngày 15/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2021/QĐXXPT-HNGĐ ngày 03/3/2021, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn X, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của ông X về tài sản: Anh Nguyễn Hữu S, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970, địa chỉ: Đội 1, Thôn C, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1952, địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1958, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Chị Phạm Thị O, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Thế H, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- Bà Phạm Thị B, sinh năm 1962, địa chỉ: Xóm G, thôn Q, xã M, huyện N, thành phố Hải Phòng (có mặt).
- Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1970, địa chỉ: Số nhà 5, ngõ 10, đường K, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Anh Nguyễn Việt D, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của bà O, bà Th, bà B, bà Đ: Anh Nguyễn Hữu S, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Những người làm chứng:
- Chị Dương Thị P, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Đức Ch, sinh năm 1965, địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- Ông Vũ Văn Y, sinh năm 1963, địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Quý V, sinh năm 1958, địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn - Ông Phạm Văn X (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện H, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông X, bị đơn bà L trình bày: Ông X và bà L kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/01/1992. Ông X, bà L chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không bảo ban nhau được trong cuộc sống thường ngày. Vợ chồng chung sống với nhau nhưng không có con chung. Khi ông X, bà L phát sinh mâu thuẫn đã được gia đình động viên, hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay ông X và bà L đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông X đề nghị được ly hôn với bà L, bà L cũng đồng ý.
Về con chung: Ông X và bà L đều xác định không có con chung, nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản: Tại bản tự khai, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông X và người đại diện theo ủy quyền về tài sản của ông X là anh Nguyễn Hữu S đều trình bày: Thửa đất 125a, tờ bản đồ số 02, diện tích 428m2 địa chỉ thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương có nguồn gốc của mẹ ông là cụ Hoàng Thị S (cụ S chết năm 2013) để lại nên thuộc quyền quản lý, sử dụng của chị em, con cháu trong gia đình ông. Nay ly hôn bà L xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng, đề nghị chia theo pháp luật, ông không đồng ý. Đối với tài sản trên đất gồm: Một nhà hai tầng, một sân lát gạch đỏ kèm theo một sân láng xi măng kèm theo tường bao làm bằng con tiện xi măng, một mái tôn đã cũ, một bể đựng nước, một nhà vệ sinh kèm theo nhà tắm ở phía trên, hệ thống tường bao và cánh cổng, một nhà bếp, chuồng lợn, một nhà vệ sinh đã cũ, 6000 viên gạch chỉ đỏ, một bộ bàn ghế đồng kỵ, một kệ để tivi và toàn bộ cây cối hoa màu trên đất là tài sản của ông với bà L. Nay vợ chồng ly hôn, đối với 6000 viên gạch chỉ đỏ, một bộ bàn ghế đồng kỵ, một kệ để tivi ông đề nghị ghi nhận thỏa thuận giữa ông với bà L giao cho ông được quyền sở hữu (không phải chia trả giá trị tài sản). Các tài sản xây dựng trên đất (trừ nhà hai tầng) cùng cây cối hoa màu nằm trên đất, ông không yêu cầu giải quyết mà tài sản nằm trên đất của ai người đó được sở hữu. Đối với nhà hai tầng ông xác định bà O, bà Th, bà Đ, anh H, chị M (là chị, em và cháu của ông) có làm phụ giúp như đào móng, đánh vôi vữa, vận chuyển vật liệu xây dựng, trông coi quét dọn nhưng những người này không yêu cầu ông và bà L phải trích trả ngày công làm giúp mà chuyển giao lại cho ông được sở hữu tính vào khối tài sản nhà hai tầng, để chia cho ông giá trị tài sản nhiều hơn so với bà L. Ngoài tài sản trên ông X, anh S không yêu cầu giải quyết tài sản nào khác.
...
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xác minh thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Phạm Văn X kháng cáo trong thời gian luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
[2] Về nội dung:
2.1. Xét kháng cáo của ông Phạm Văn X về việc không đồng ý chia tài sản chung vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy:
- Xem xét về nguồn gốc đất: Căn cứ lời khai của các đương sự, căn cứ kết quả xác minh cho thấy nguồn gốc diện tích đất mà vợ chồng ông X đang quản lý, sử dụng là của cụ Sủng (mẹ đẻ của ông X) để lại. Tuy nhiên từ năm 2003 (khi cụ Sủng còn sống) thì ông X, bà L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2009 vợ chồng ông X đã phá nhà cũ và xây nhà 2 tầng như hiện nay. Trong suốt quá trình xây nhà thì cụ Sủng cũng như các con không ai có ý kiến gì (Cụ Sủng chết năm 2013).
- Xem xét về quyền sử dụng đất thì thấy: Trước khi ông X có đơn xin ly hôn bà L thì các con của cụ S đã có đơn khởi kiện, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp cho ông X, bà L, vì cho rằng diện tích đất này là của cụ S để lại, đồng thời yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ S theo quy định của pháp luật. Tại bản án phúc thẩm số 25/2020/DS-PT ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã xử xác định trong 428 m2 đất mà ông X, bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có 378,25 m2 đất là của vợ chồng ông X. Chỉ có 40,75 m2 đất còn lại là phần di sản thừa kế mà ông X được hưởng của cụ S. Hiện bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy khi giải quyết chia tài sản chung của ông X, bà L Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định 378,25 m2 đất trong tổng số 428 m2 đất mà ông X, bà L đang quản lý, sử dụng là tài sản chung của ông X, bà L là có căn cứ. Khi phân chia tài sản chung vợ chồng, Tòa sơ thẩm đã xem xét đến nguồn gốc đất là của mẹ ông X, trên cơ sở đó chia cho ông X phần diện tích nhiều hơn bà L theo tỷ lệ ông X 55%, bà L 45% giá trị tài sản là hợp lý, đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự. Do vậy nội dung kháng cáo này của ông X không có căn cứ chấp nhận.
...
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn X. Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 46/2020/HNGĐ-ST ngày 15/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hải Dương về phần chia tài sản chung vợ chồng như sau:
Căn cứ vào Điều 147, 227, 228, 229, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 235, 357, 468 của Bộ luật Dân sự. Điều 51, 56 và Điều 33, 59, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 100 của Luật đất đai. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về tài sản:
- Xác nhận diện tích 40,75m2 đất tiêu chuẩn 721 nằm trong thửa đất số 125a, tờ bản đồ số 02, địa chỉ thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Phạm Văn X (theo bản án dân sự phúc thẩm số 25/2020/DSPT, ngày 25/5/2020 của TAND tỉnh Hải Dương).
- Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu giải quyết các tài sản nằm trên thửa đất số 125a, tờ bản đồ số 02, địa chỉ thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương, gồm: một sân lát gạch đỏ; một bể đựng nước; một nhà vệ sinh kèm theo nhà tắm; một nhà bếp; một nhà vệ sinh đã cũ; một chuồng lợn; một mái tôn; tường bao + cổng ở phía bắc thửa đất; tường bao phía tây thửa đất; tường bao phía nam thửa đất; đoạn tường ở trong thửa đất và toàn bộ công trình xây dựng khác, cây cối hoa màu nằm trên đất.
- Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự, giao cho ông Phạm Văn X được quyền sở hữu 6000 viên gạch chỉ đỏ; bộ bàn ghế đồng kỵ (01 ghế đôi, 02 ghế đơn và một bàn); một kệ để tivi (không tính trị giá). Ông X không phải trả chênh lệch giá trị bằng tiền cho bà Nguyễn Thị L. Ông X phải có nghĩa vụ tự di chuyển gạch chỉ đỏ về phần đất của mình.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Th, bà Phạm Thị Đ, anh Nguyễn Thế H và ông Phạm Văn X về ngày công làm nhà hai tầng trị giá 15.500.000đ (310 ngày x 50.000đ/ngày) cho ông X được quyền sở hữu.
- Xác nhận khối tài sản chung của ông Phạm Văn X và bà Nguyễn Thị L: Quyền quản lý, sử dụng diện tích 378,25m2 đất nằm trong thửa đất 125a, tờ bản đồ số 02 thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương trị giá 3.782.500.000đ và một nhà hai tầng trị giá 443.218.000đ. Tổng giá trị tài sản chung là 4.210.218.000đ.
...
|
Nơi nhận: - VKS tỉnh Hải Dương; - TAND huyện H; - Chi cục THA dân sự huyện H; - Các Đương sự; - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã Ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 04/2021/HNGĐ-PT ngày 31/03/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng
- Số bản án: 04/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
